0 nhận xét

Bàn về thơ dịch


ĐỂ CÓ NHỮNG BÀI THƠ DỊCH ĐÚNG VÀ HAY
Nguyễn Duy Yên

      Dịch thơ là một vấn đề khó. Dịch thơ không phải là dịch nghĩa bài thơ. Dịch thơ là dịch một bài thơ từ ngôn ngữ này ra ngôn ngữ khác. Bởi vậy muốn dịch thơ trước hết phải là người biết làm thơ. Thông thạo ngôn ngữ của dân tộc mình, thông thạo luật lệ các thể loại thơ của mỗi nước. Nếu không thành thạo nhuần nhuyễn tiếng nói của dân tộc mình, không biết và hiểu các thể loại thơ thì chúng ta không thể dịch được thơ.
      Trong dịch thơ có hai tiêu chuẩn được coi trọng ngang nhau là dịch cho đúng và dịch cho hay. Dịch cho đúng một bài thơ, không phải là sát nghĩa từng chữ từng câu mà cần đúng với tinh thần bài thơ, nói được hồn của bài thơ. Dịch cho hay một bài thơ là làm sao bản dịch rung động trước người đọc, khi đọc nguyên tác bài thơ rung động thì khi đọc bản dịch cũng rung động như thế. Nếu dịch không đúng thì có thể phản lại ý tưởng của tác giả, nếu dịch không hay thì không có gì quyến rũ được người đọc.
      Bởi vậy muốn dịch cho đúng và cho hay bài thơ mình định dịch thì trước hết ta phải đọc kỹ bài thơ, xem tác giả muốn nói gì về đất nước, con người, về tâm tư tình cảm của tác giả. Ví dụ bài thơ "Việt nữ từ" của Lý Bạch có 4 câu:
"Da Khê thái liên nữ
Kiến khách trạo ca hồi
Tiếu nhập hà hoa khứ
Dương tu bất xuất lai"
      Ta phải tìm hiểu xuất xứ của bài thơ. Đây là bài thơ Lý Bạch làm khi đi vãn cảnh hồ Da Khê. Người con gái hái sen thấy khách đến thì thẹn thùng, quay thuyền về, nấp dưới lá sen không giám bước lên bờ. Thế thì phải dịch như Khương Hữu Dụng:
Gái Da Khê hái sen
Thấy khách hát quay thuyền
Cười lấp vào sen lánh
Thẹn thò chẳng bước lên.
      Người con gái hái sen thấy khách, hát quay thuyền và thẹn thùng nấp vào sen lánh mặt, chẳng dám bước lên, chứ không phải một số người đã hiểu lầm là Lý Bạch hát quay thuyền. Có hiểu xuất xứ bài thơ mình định dịch thì mới tránh được dịch sai nội dung bài thơ. Chính không tìm hiểu xuất xứ bài thơ nên dịch giả Vương Tử Ba đã dịch sai bài thơ "Demain des 1' aube" của Victor Hugo.
      Victor Hugo có người con gái là Leospoldine Hugo đã cùng chồng chết ở Villequier ngày 4/9/1843. Bốn năm sau ngày 4/9/1847, Victor Hugo đi thăm mộ con và làm bài thơ "Demain des 1'aube" vào ngày 3/9/1847, tức trước ngày người con gái của tác giả mất. Do đó bài thơ mới mang đầu đề là "Ngày mai, từ lúc rạng đông". Chính vì người dịch chưa hiểu xuất xứ của bài thơ nên đã dịch là: "Victor Hugo đi thăm mộ người yêu". Thật là một sai lầm tai hại!
      Lại nói thêm về dịch thơ Việt ra thơ Pháp. Bác Hồ có bài thơ "Cảnh khuya"
"Tiếng suối trong như tiếng hát xa 
Trăng lồng cổ thụ, bóng lồng hoa
Cảnh khuya như vẽ người chưa ngủ 
Chưa ngủ vì lo nỗi nước nhà"
      Câu thơ "Cảnh khuya như vẽ Người chưa ngủ", ý Bác Hồ nói cảnh khuya như vẽ, nhưng không phải cảnh khuya đẹp mà Bác chưa ngủ, mà Bác chưa ngủ, mà Bác chưa ngủ vì lo nỗi nước nhà. Nhưng dịch giả Phạm Nguyên Phẩm lại hiểu sai ý câu thơ đó nên trong tập thơ Hồ Chí Minh (NXB Hội nhà văn, 1/2005), đã dịch là "La nuit brosse un tableau d'homme mal endormi". Dịch như thế là sai ý câu thơ của Bác Hồ. Sao lại cảnh khuya vẽ người chưa ngủ? Cho nên dịch thơ ta cần phải đọc kỹ bài thơ, đọc kỹ câu thơ để thấu hiểu ý tứ bài thơ thì mới mong tránh khỏi sai lầm.
       Trên đây, tôi nói muốn dịch thơ cho đúng, ta phải nghiên cứu kỹ câu thơ, ý bài thơ, phải hiểu được xuất xứ của bài thơ thì ta mới dịch được đúng bài thơ mình chọn dịch.
       Còn tiêu chuẩn thứ hai là dịch cho hay một bài thơ thì tôi nghĩ như thế này. Dịch thơ mà dịch sát nghĩa từng chữ (mot à mot) từng câu như một số người đã bảo vệ ý riêng của mình, thì dịch thơ làm sao hay được.
Dịch cho hay là làm sao khi dịch bài thơ người ta đọc thấy bản dịch rung động trong lòng như khi đọc nguyên tác. Chẳng hạn ta đọc bài thơ dịch "Sonnet d' Arvers" của Khái Hưng, ta thấy rất hay vì bản dịch đã lột tả được tâm hồn bài thơ. Bản dịch bài thơ của Khái Hưng như sau:
"Lòng ta chôn một khối tình
Tình trong giây phút mà thành thiên thâu
Tình tuyệt vọng, nỗi thảm sầu
Mà người gieo thảm như hầu không hay

Hỡi ôi! Người đấy ta đây
Sao ta thui thủi đêm ngày chiếc thân
Dầu ta đi trọn đường trần
Nỗi riêng há dám một lần hé môi

Người dù ngọc nói hoa cười
Nhìn ta như thể nhìn người không quen
Đường đời lặng lẽ bước tiên
Ngờ đâu chân đạp lên trên khối tình

Một niềm tiết liệt, đoan trinh
Xem thơ nào có biết mình ở trong
Lạnh lùng lòng sẽ hỏi lòng
Người đâu tả ở mấy dòng thơ đây"
      Những bài thơ hay hoặc dịch hay đều sống mãi trong lòng chúng ta.
      Lại nói đến bài "Hoàng Hạc lâu" của Thôi Hiệu mà Tản Đà đã dịch:
Hạc vàng ai cưỡi đi đâu?
Mà đây Hoàng Hạc riêng lầu còn trơ
Hạc vàng đi mất từ xưa
Nghìn năm mây trắng bây giờ còn bay
Hán Dương sông tạnh cây bày
Bãi xa Anh Vũ xanh dày cỏ non
Quê hương khuất bóng hoàng hôn
Trên sông khói sóng cho buồn lòng ai.
      Bài thơ dịch Hoàng Hạc lâu của Tản Đà từ khi ra đời đến nay được đánh giá rất cao.
Dư luận trong văn học nhất trí cho rằng chưa có bài thơ dịch nào vượt được. Tôi còn nhớ khi báo "Ngày nay" giới thiệu bài Hoàng Hạc lâu của Thôi Hiệu và bài dịch của Tản Đà, tòa soạn có lời nói đầu ngắn gọn nhưng trang trọng. Sau này năm 1992 NXB Giáo dục có in tập "Thơ Việt Nam 1930-1945" nhà phê bình Văn Tâm khi viết về Tản Đà, ngoài những bài thơ sáng tác của ông coi bài dịch Hoàng Hạc lâu như một bài sáng tác.
      Ta có thể nói trong 8 câu thơ dịch của Tản Đà câu nào cũng gợi ra sự xôn xao rung động của người dịch. Hai câu đầu khi Thôi Hiệu chỉ mở ra cánh cửa lầu Hoàng Hạc, khi chim bay đi thì Tản Đà đã có những chữ đầy luyến tiếc như "đi đâu", "còn trơ"...Đến câu 3-4 là hai câu đặc sắc nhất của Thôi Hiệu thì hai câu dịch của Tản Đà không kém gì nguyên tác
Hạc vàng đi mất từ xưa
Nghìn năm mây trắng bây giờ còn bay
      Đến hai câu 5-6 tả cảnh sông nước xung quanh, Tản Đà đã có những chữ đưa đẩy rất duyên dáng như "sông tạnh cây bày", "xanh dày cỏ non". Đến hai câu 7-8, câu thơ dịch của Tản Đà vẫn chứa chan luyến tiếc "khuất bóng hoàng hôn", "cho buồn lòng ai"
       Bài thơ dịch của Tản Đà đã làm vui lòng bạn đọc. Trong việc dịch thơ ở nước ta không phải chỉ riêng Tản Đà dịch được thanh thoát, mà cha ông chúng ta cũng có rất nhiều bài thơ dịch hay, như bà Đoàn Thị Điểm dịch "Chinh phụ ngâm" của Đặng Trần Côn, Phan Huy Ích dịch bài"Tỳ bà hành" của Bạch Cư Dị ...
       Nói tóm lại, dịch thơ là một sáng tạo nghệ thuật, phải lột tả được cái hồn của những bài thơ mình chọn dịch. Dịch ngược hay dịch xuôi đều phải làm được như thế mới mong chinh phục được người đọc.
Trích trong tập "Bàn Về Quan Điểm Dịch Thơ" - Nhà xuất bản Hội nhà văn 7/2011
0 nhận xét

Lời bình

                                                                   Ảnh Internet

  LỜI GIỚI THIỆU (Tập thơ LĂNG KÍNH THƠ- Thơ Đoàn Kim Vân)

           LĂNG KÍNH THƠ HAY KÍNH VẠN HOA CỦA ĐỜI
                      Nhà thơ Bằng Việt- Chủ tịch Hội LHVHNT Hà nội.

   Đã lâu, chúng ta mới có dịp được đọc liên hoàn cả một tập thơ thanh thoát gồm tới 200 bài thơ ở dạng tứ tuyệt thuần chất hoặc phá thể, đồng thời thêm một bài thứ 201 coi như làm đề từ cho cả tập: "Lăng kính thơ" của tác giả Đoàn Kim Vân. Có thể đọc một hơi mà không thấy đơn điệu dù chỉ toàn một thể bốn câu, và đọc liền một mạch mà cũng không hề thấy mệt mỏi, vì chất thơ tuy hàm súc nhưng lại mở ra nhiều suy tư và cảm nhận đa dạng, phong phú đến vô cùng. Tôi có thể ví "Lăng kính thơ" không khác gì ống kính vạn hoa của cuộc đời, soi vào đó, chúng ta nhìn thấy mọi cung bậc hỉ, nộ,ái, ố của chính đời sống hôm nay.
   Nếu làm một chút liệt kê theo chủ đề,thì trong :"Lăng kính thơ" có những mảng đậm về thế thái nhân tình, về cái đẹp và cao quý ở đời cũng như những điều ô trọc đáng phê phán, kể cả những thói xấu rất cụ thể của người đời như lòng tham, tính ti tiện trong cách sống giả nhân nghĩa, lắt léo, phỉnh phờ, xu nịnh, dối trá.thậm chí cả thói mua quan bán chức, lường gạt người dân lương thiện ở mặt trái của xã hội..Tuy nhiên, tác giả vẫn thiên về hướng tôn vinh và đề cao tính hướng thiện cũng như tình người đích thực trong cách sống, ca ngợi vẻ đẹp trong trẻo của con người thẳng ngay,lương thiện ; ca ngợi sự linh thiêng trong tình cảm lứa đôi, tình nghĩa vợ chồng thủy chung, son sắt. Những bài thơ nửa như tự sự, nửa để răn đời tuy chỉ có bốn câu ngắn nhưng đúc kết được khá nhiều điều phong phú về triết lý sống, về đạo đức làm người. Điều này lại càng đáng tin cậy khi tác giả đã đứng ở tầm cao về tuổi đời và kinh nghiệm sống để truyền lại cho lớp người trẻ hơn với cách nói nhẹ nhàng mà thấm thía, với cách triết lý giàu từng trải và kinh lịch thực tiễn, không sa vào tự biện, cũng không rơi vào cung cách giáo huấn nặng nề.
   Những mảng đề tài khác cũng nổi bật trong tập thơ có thể kể ra như mảng vế đề tài Hà nội (Hồ Gươm, Tháp Bút,Tháp Hòa Phong, Văn Miếu, Tây Hồ...) cũng được chấm phá thanh thoát và nhiều sức khơi gợi. Đặc biệt, tác giả còn tả cả về "Hà Nội lụt" hôm nay với lời kêu than vừa chua chát vừa hóm hỉnh gửi tới"ông thoát nước" - chớ hẹn hò xuông mà cứ để dân đen cam chịu chống chèo mãi với tính đỏng đảnh của ông Trời! Một bài thơ vừa trữ tình lại vừa có tính hoạt kê.
   Tiếp đó, có thể kể đến mảng đề tài về hoa. Tác giả khá tinh tế và dịu dàng khi viết về hoa Sen, hoa Lộc vừng, lại không kém phần sắc sảo và uyển chuyển khi viết về hoa Nguyệt Quế, và cũng đầy thương cảm và chua xót khi viết về sự mỏng manh của kiếp hoa Quỳnh. Nhưng thú vị hơn nữa từ hoa thật tác giả đã liên hệ đến " hoa người" khi gọi tên từng cô con dâu hòa thuận ,nết na của gia đình mình- cũng vốn là tên các loài hoa- được cách điệu lên thanh những bông " hoa đời" dung dị nhưng luôn tỏa sắc hương tươi thắm và niềm vui cho mọi người.
   Tả mùa, tác giả tỉ mỉ đề cập cả đến bốn mùa Xuân, Hạ, Thu, Đông với những chấm phá đặc trưng cho . cảnh quan và tâm trạng riêng của con người với từng mùa. Tả địa danh và các vùng quê đặc sắc trên cả nước, tác giả đề cập đến  rất nhiều cảnh quan nổi tiếng của cả dải non sông gấm vóc, như Hạ Long, Huế, sông Thạch Hãn, sông Hương, những nét thơ mộng của Sa Pa, Đà Lạt, Tản Viên, Tam Đảo, Sầm Sơn... Đặc biệt tác giả còn tràn đầy cảm xúc và tình cảm công dân sôi sục khi viết về các vùng biển đảo Trường Sa, Hoàng Sa thân thương hiện còn đang bị thế lực nước ngoài xâm chiếm và cát cứ.
   Trong tập, cũng còn một mảng đề tài khá sâu đậm về các danh nhân văn hóa như Nguyễn Du, Hồ Xuân Hương, Hải Thượng Lãn Ông, Tú Xương ; đến các văn nghệ sĩ đương thời có nhiều gắn bó với đời sống tình cảm và tâm hồn tác giả như : Giáo sư AHLĐ Vũ Khiêu, nhạc sĩ Trịnh Công Sơn, nhà thơ Phạm Tiến Duật, NSND Lê Dung, nữ anh hùng Đặng Thùy Trâm... Mỗi bài thơ, tuy chỉ như một nét chấm phá nhỏ về các nhân vật kể trên, nhưng đều thể hiện được tình cảm bộc bạch và chân thành của tác giả và các đối tượng mình đề cập đến - những tài danh ở góc độ này hay góc độ khác từng để lại trong trái tim tác giả những nốt trầm lặng lẽ nhưng còn đủ sức vang rung mãi về sau.
   Cuối cùng chúng ta không thể không dừng lại lâu hơn một chút ở mảng đề tài khà phong phú viết về  bản thân tác giả, với hàm ý của tác giả muốn gợi mở ra những điều gì chiêm nghiệm, tự răn mình, tự nhủ mình, cốt cũng nhằm để sửa mình; hoặc tự suy ngẫm sâu xa và lo tính nhiều bề để giải được những "mật mã cuộc đời", để chọn bạn, để lập thân và tu thân trong suốt chiều dài có rất nhiều biến cố và thăng trầm của mỗi thân phận con người : " Mênh mông mặt nước sông dài / Một chiều xa một mảnh đời lênh đênh...". Có những câu thơ trực giác, nhưng cảm động vì cố níu kéo một khoảnh khắc để cho nó còn ở lại với mình,  không bị tan nhòa vào vô tận : "Nhớ nhau thì nhớ hôm nay nhé / Có lệ rưng rưng nặng khối tình...".Có đôi lúc, tác giả bị lung lay niềm tin vào cái Chân, Thiện, Mỹ ở cuộc đời khắc nghiệt, chỉ còn lại một phút ngậm ngùi vì cái bon chen vô vọng của kiếp người " Thiên đường mơ tưởng nào đâu thấy / Chỉ thấy bon chen một kiếp người". Tuy vây, giọng điệu chủ đạo trong cả tập thơ dù sao vẫn là lạc quan, vẫn nắm vững ở thế chủ động :"Trăm năm ra khỏi cõi người / Tâm hồn tôi vẫn sáng ngời niềm tin". Và dù cho rằng mỗi con người có một số phận, nhưng tác giả không bao giờ chịu đứng ở thế bị động, để thả mình buông trôi vào yếm thế, mà luôn luôn nắm vững một chân lý chủ đạo,có thể nói là ở một tư thế tự tin làm chủ số phận, thể hiện rõ tính cách và bản lĩnh của một con người dám quyết đáp trong mọi việc "Số phận con người cũng tự ta...". Đó chính là cái gốc của mọi điều để ta tự răn mình, tự nhủ mình khi suy ngẫm về số và vận của đời mình.
   Phần suy ngẫm và chiêm nghiệm có thể nói là bay bổng nhất và thanh thản nhất trong tập thơ chính là phần cảm nhận về thơ và vai trò của thơ trong cuộc đời một con người. Đây cũng là phần tác giả viết nhẹ nhàng, tươi tắn nhất, và cùng với phần chiêm nghiệm về số phận con người, đây cũng là phần có nhiều câu thơ hay nhất trong cả tập. Có những câu lửng lơ mà da diết : "Bài thơ viết mới nửa chừng / Giấc mơ chiều đến xin đừng qua đi". Có những câu triết lý mộc mạc mà sâu sắc : Người đi tìm kiếm bạc vàng / Riêng tôi tìm lấy một nàng thơ chơi / Ngẫm xem những tấm trò đời / Ai mà tim thấy mặt trời nửa đêm "..Hoặc đôi câu khác lại có cái " ngẩn ngơ" rất thi sĩ, đó là chất thi sĩ trẻ, thơ lãng mạn vẩn vơ của ngàn đời " Có người đi nhặt hoàng hôn /Đêm về đan dệt nỗi buồn vu vơ..."Nhưng chất lãng mạn tích cực, đầy nhận thức trong lành, đầy chất liệu hiện thực mới là chất lãng mạn ấn tượng nhất trong tập thơ ; "Nếu trái đất này mà không có biển / Ai dám mơ tìm thấy một thiên đường".Qủa thực, đến với thơ và gắn bó thơ với đời một cách hài hòa, tác giả đã được đền bù xứng đáng ; 'Tháng năm rồi sẽ qua dần / Dòng đời nối tiêp tình Xuân còn dài...".
   Hai trăm bài thơ, mỗi bài một vẻ, mỗi bài một khía cạnh, một góc độ, nhưng chúng xứng đáng là miếng kim cương đủ màu sắc óng ánh trong ống kính vạn hoa của một nhà thơ tràn trề cảm xúc. Xin chúc mừng tác giả Đoàn Kim Vân và trân trọng được giới thiệu với bạn đọc.

                                                                      Nhà thơ  Bằng Việt
0 nhận xét

Ảnh tư liệu

                                             Vợ chồng Nhà thơ Duy Yên-Kim Vân (2001)
0 nhận xét

Ảnh tư liệu

                                                              Nhà thơ Đoàn Kim Vân
                                                                            (2004)

0 nhận xét

Ảnh tư liệu

                                                  Vợ chồng nhà thơ Duy Yên-Kim Vân
                                                                           (2001)
0 nhận xét

Ảnh tư liệu

                                                              Nhà thơ Nguyễn Duy Yên
                                                                            (2006)

0 nhận xét

Ảnh tư liệu

                                                             Duy Yên - Kim Vân (2006)

0 nhận xét

Ảnh tư liệu

                                         Vợ chồng nhà thơ Nguyễn Duy Yên- Đoàn Kim Vân
                                                                           (2008)

0 nhận xét

Lăng Kính Thơ




0 nhận xét

Trích trong tập" Lăng kính thơ"


Trích trong tập LĂNG KÍNH THƠ- NXB HNV 2014 Thơ Đoàn Kim Vân

VẠ MỒM

Cái mồm hay nói vạ vào thân
Chướng mắt ngang tai cũng lặng thầm
Ngẩng mặt sáng soi vầng nhật nguyệt
Xin đừng vạ miệng nói lăng nhăng.

LẮT LÉO

Lắt léo muôn hình khó hiểu thay
Thực hư giả dối giữa đời này
Vểnh tai nghe hót sao mà sướng
Kinh tụng trò hề lắm cái hay.

VUI VỚI BẠN

Hôm nay bạn đến chơi nhà
Dăm câu thơ phú xuề xòa cho vui
Chè ngon nhấp chén chào mời
Luận bàn thế sự đôi lời thăm nhau

CẢNH GIÁC

Luôn luôn thận trọng ở đời
Nhớ câu cảnh giác là lời khuyên răn
Dẫu rằng tin ở người thân
Hãy tin một nửa nửa phần xét thêm.

VÒNG ĐỜI

Triều triệu năm tròn vẫn thế thôi
Tránh sao sinh tử một vòng đời
Thiên đường mơ tưởng xa vời vợi
Chỉ thấy bon chen một kiếp người.

       Đoàn Kim Vân
0 nhận xét

Hồ Xuân Hương

HỒ XUÂN HƯƠNG


Tiếc thay một mảnh hồn trinh
Trải qua sóng gió trở thành phù du
Thơ còn đọng lại ngàn thu
Hồ Xuân hương với Nguyễn Du thiên tài.

      Đoàn Kim Vân
0 nhận xét

Bốn mùa

                                                                  Ảnh Internet

BỐN MÙA

Tôi yêu nàng lắm hỡi nàng xuân
Tấm áo thanh thiên phủ bụi trần
Đến với nàng là niềm ước vọng
Vòng đời khép kín tuổi thanh xuân

Hè về oi ả tiếng ve kêu
Giộng "Cuốc " oán than những buổi chiều
Hương sen thơm ngát bay thoang thoảng
Ngọn gió đưa tình khóm trúc xiêu

Trời ngả sang thu dịu nắng hè
Cánh cò phấp phới khắp đông quê
Bao nhiêu thiếu nữ khoe mùa cưới
Đón đợi heo may gió lạnh về

Đêm ngắn ngày dài báo hết năm
Nắng thu vương lại chút hương thầm
Nụ đào chớm nở chào xuân tới
Báo hiệu ngày Đông đã cạn dần.

              ĐOÀN KIM VÂN
0 nhận xét

Trích trong tập "Muôn nẻo đường thơ"

                                                               Ảnh INTERNET

                                                    LỐI RẼ

                                         Muôn nẻo đường thơ rẽ lối nào?
                                         Tự tìm định hướng tới tầm cao
                                        Viển vông mây gió là thơ chết
                                        Thi tứ nhạt phèo ngán ngẩm sao!

                                           HAI MẶT ĐỒNG TIỀN

                                        Hai mặt đồng tiền trắng lẫn đen
                                        Xưa nay lắm kẻ chết vì tiền
                                       Gặp thời móc túi là tham nhũng
                                        Trán bóng mặt trơ một lũ hèn.

                                              VỊNH CÁ CẢNH

                                      
                                        Bơi trong bể kính nước trong xanh
                                       Sống chết tay người kiếp mỏng manh
                                       Uốn lượn quẩn quanh khoe sắc đẹp
                                       Còn đâu biển rộng để tung hoành.

                                               BIỂN ĐỜI

                                     Gió cuốn gây nên trời bão tố
                                     Gầm gào biển dữ nước non xanh
                                     Thăng trầm bể khổ qua muôn kiếp
                                     Thế giới bao la vũ trụ tình.

                                                CỜ ĐỜI

                                     Lận đận đi tìm lấy thú chơi
                                     Được thua toan tính ván cờ đời
                                     Xe xe ngựa ngựa đành trơ mắt
                                    Nhường lại tốt nhèm nhảy chiếm ngôi.

                                              Thơ Nguyễn Duy Yên

                                  (Trích trong tập Muôn nẻo đường thơ
                                   NXB Văn học năm 2013)

                                       






















0 nhận xét

Muôn nẻo đường thơ (trích)

                                                                      Ảnh Internet

NỢ

Chẳng nợ văn chương chẳng nợ đời
Kiếm đâu ra chữ để mà chơi
Con đường danh lợi ai qua khỏi
Một kiếp bon chen giữa biển đời.

BIẾT PHẬN MÌNH

Biết thân biết phận mấy là ngoan
Phú quý xưa nay lắm kẻ màng
Đầu óc tối đen tài trí đoản
Lòi đâu ra được giống nhà quan.

HỢM MÌNH

Hợm mình kẻ cả giọng nhà quan
Ngạo mạn khinh đời hay nói ngang
Lên lớp dạy khôn toàn lũ ngọng
Chấp gì thằng dốt nói lăng nhăng.

HÈN

Quỳ gối khom lưng lắm kẻ hèn
Gọi tên trọc phú mấy ai khen
Làm người phải biết vinh và nhục
Nheo mắt coi khinh lũ ngộ tiền.

LÀM DÂN

Làm dân mà sướng,sướng hơn quan
Tránh đẻ ra mình cái giống tham
Lắm kẻ cúi luồn mua chức tước
Vàng thau lẫn lộn biết ai ngoan?

            Nguyễn Duy Yên
(Trích trong tập "Muôn nẻo đương thơ"
NXB Văn học năm 2012)

0 nhận xét

Chớm thu

                                                                   Ảnh Internet

CHỚM THU

Chớm thu sang trời xanh biêng biếc
Mây trắng trôi lơ lửng tầng không
Lá chuyển sắc vàng trời dịu nắng
Sông buồn gọi gió, gió mung lung.

Thu vừa tới sen tàn cúc hẹn
Liễu mơ màng e thẹn gió đông
Trăng thu tỏ hơi thu lành lạnh
Thu đi tồi em có buồn không?
         Đoàn Kim Vân
(Trích trong tập thơ  MÙA HOA NHÃN
 
Đồ gỗ nội thất thanh hóa, bàn ghế gỗ tại thanh hóa, giường ngủ đẹp thanh hóa, giường gỗ thanh hóa, bàn ghế ăn thanh hóa, tủ quần áo gỗ thanh hóa, sofa gỗ tại thanh hóa