Muôn nẻo đường thơ (trích)

                                                                      Ảnh Internet

NỢ

Chẳng nợ văn chương chẳng nợ đời
Kiếm đâu ra chữ để mà chơi
Con đường danh lợi ai qua khỏi
Một kiếp bon chen giữa biển đời.

BIẾT PHẬN MÌNH

Biết thân biết phận mấy là ngoan
Phú quý xưa nay lắm kẻ màng
Đầu óc tối đen tài trí đoản
Lòi đâu ra được giống nhà quan.

HỢM MÌNH

Hợm mình kẻ cả giọng nhà quan
Ngạo mạn khinh đời hay nói ngang
Lên lớp dạy khôn toàn lũ ngọng
Chấp gì thằng dốt nói lăng nhăng.

HÈN

Quỳ gối khom lưng lắm kẻ hèn
Gọi tên trọc phú mấy ai khen
Làm người phải biết vinh và nhục
Nheo mắt coi khinh lũ ngộ tiền.

LÀM DÂN

Làm dân mà sướng,sướng hơn quan
Tránh đẻ ra mình cái giống tham
Lắm kẻ cúi luồn mua chức tước
Vàng thau lẫn lộn biết ai ngoan?

            Nguyễn Duy Yên
(Trích trong tập "Muôn nẻo đương thơ"
NXB Văn học năm 2012)

Chớm thu

                                                                   Ảnh Internet

CHỚM THU

Chớm thu sang trời xanh biêng biếc
Mây trắng trôi lơ lửng tầng không
Lá chuyển sắc vàng trời dịu nắng
Sông buồn gọi gió, gió mung lung.

Thu vừa tới sen tàn cúc hẹn
Liễu mơ màng e thẹn gió đông
Trăng thu tỏ hơi thu lành lạnh
Thu đi tồi em có buồn không?
         Đoàn Kim Vân
(Trích trong tập thơ  MÙA HOA NHÃN

Bản nhạc ra đời

                                                                    Ảnh Internet

BẢN NHẠC RA ĐỜI

Tôi từng yêu cây đàn Piano quý giá
Đang hình thành những nốt nhạc trong tôi
Bản tình ca "cám dỗ" đã ra đời
Âm thanh êm dịu cho tâm hồn thư thái
Nàng dạo nhạc quyện với thơ tôi thân ái
Nhạc và thơ làm thức tỉnh con người
Bản tình ca trong tình khúc không lời
Làm rung động bao con tim say đắm
Nhạc và thơ là hai tâm hồn trong trắng
Tất cả tình anh sụp đổ dưới chân em
Âm thanh du dương như tiếng ru của mẹ hiền
Trong ánh mắt trẻ thơ nâng niu bầu sữa mẹ
Từ sâu thẳm xa đưa rung lên nhè nhẹ
Đưa anh vào cõi mộng giữa không gian
XI-KIN- NHA nhạc sĩ tài hoa sức sống dâng tràn
Đem âm nhạc đấu tranh giành lẽ sống
Em thân yêu, sức mạnh trong em như ngọn sóng
Xô vào bờ bao rác rưởi sẽ tan đi
Ngón tay em có sức mạnh thần kỳ
Như cơn lốc cuốn hút anh tới vùng xa lạ
Nhạc với em là đấu tranh, là tất cả
Vì con người đau khổ hãy vùng lên
Tìm cuộc sống tươi vui trong thế giới yên
Đòi phụ nữ có quyền tư do và bình đẳng.

                 Đoàn Kim Vân
(Trích trong tập thơ MÙA HOA NHÃN
NXB Hội nhà văn năm 2010)





Sơ lược tiểu sử



I. Tiểu Sử Hai Nhà Thơ
Nguyễn Duy Yên - Nhà dịch giả
Sinh năm 1931 tại làng Thụy Lôi, huyện Tiên Lữ, tỉnh Hưng Yên trong gia đình truyền thống Khoa bảng. Ông nội là Nghị viên Bắc kỳ, Đô úy vùng Tuyên Quang, ông ngoại là danh nhân Việt Nam - Nhà Văn Hóa Phan Kế Bính. Cha đẻ là nhà giáo thời Pháp thuộc, hoạt động Cách mạng, là Đảng viên Đảng Cộng Sản Việt Nam. Mẹ là con gái thứ ba của nhà văn hóa danh nhân Phan Kế Bính.
Năm 1949 Tốt nghiệp Trung học, gia nhập quân đội, học viện lục quân Trần Quốc Tuấn(Khóa V).
Năm 1957 chuyển ngành sang Bộ Nông Lâm.
Năm 1959 - học viên Học Viện thủy lợi(khóa 1959 - 1963).
Năm 1963 về công tác tại Bộ Thủy Lợi đến khi được nghỉ hưu.
Huân chương Chiến thắng - Hạng II.
Huân chương Chống Mỹ cứu nước - Hạng I.
Thường trú: 12 Y Miếu-Phường Văn Miếu-Đống Đa-Hà Nội.
Hội viên Hôi Nhà Văn Hà nội
Phó chủ nhiệm CLB thơ dịch Hội nhà văn Hà Nội –CLB sáng tác văn học, nghệ thuật Vịêt Nam.
Chủ nhiệm CLB thơ Văn Miếu Hà Nội.
Đoàn Kim Vân .
Năm sinh: 1936
Quê quán: Thụy Lôi-Tiên Lữ-Hưng Yên .
Thường trú: 12 Y Miếu-Phường Văn Miếu-Đống Đa-Hà Nội.
Quá trình công tác:
1960-1962: Vụ Bảo tồn Bảo tàng (thuộc Bộ Văn hoá)
1962-1964: Thư viện Quốc gia (thuộc Bộ Văn hoá)
1964-1966: Bộ ngoại thương- Nhà máy hoa quả
1966-1985: Trung Ương Hội Đông Y Việt Nam,CB nghỉ hưu
1985-2009: Chủ nhiệm HTX Mỹ Hà (Nay là Công ty Đồ gỗ Mỹ Hà)
 Hội viên Hội Nhà Văn Hà Nội..
Huân chương Chống Mỹ cứu nước Hạng II.
Hiện nay Bà đang là PGĐ Trung tâm Văn học Nghệ thuật các Câu lạc bộ Thăng Long Thi Xã và là phó chi hội Tán Trợ Thăng Long- Hội Chữ Thập Đỏ- TP Hà Nội.
II. Các Tác Phẩm Chính
Nguyễn Duy Yên – Đoàn Kim Vân
Tác phẩm chính in chung đã xuất bản
1-Tiếng lòng (thơ)NXB Văn hoá- Thông tin 1997,
tái bản lần thứ I-năm 2003.
2-Dặm đời (thơ) NXB Văn học năm 2000 và tái bản lần thứ I –năm 2003.
3-Chân trời mới (thơ) NXB Văn học năm 2003.
4-Biển đời (thơ) NXB Văn học năm 2007.
5-Tuyển tập thơ  NXB Văn học năm 2009
Đoàn Kim Vân
Tác phẩm in riêng :
1-Ngược dòng thời gian. NXB Văn học năm 2008.
2-Mùa hoa nhãn ,NXB Hội Nhà Văn 2010.
3-Lăng kính thơ NXB Hội Nhà văn năm 2014.
4- Tiếng lòng gọi những tiếng lòng- In chung 2 chị em Đoàn Kim Văn- Đoàn Xuân Quỳ năm 2007.
In 1 cuốn bán đấu giá lấy tiền làm từ thiện giúp học sinh nghèo vượt khó tỉnh Bến tre(16-11-2007), số tiền thu được trên 80 triệu đồng.
Nguyễn Duy Yên
Tác phẩm in riêng :
1-Mênh mang …xuân – NXB Văn học 2010.
2- Một thoáng hương xưa- NXB Hội Nha văn năm 2010.
3- Muôn nẻo đường thơ NXB Văn học năm 2012.
Biên soạn chung
1-Trăng với thi nhân Việt nam (Nguyễn Trần Phụng- Nguyễn Duy Yên- Đoàn Kim Vân.NXBVăn học-2010
2-Nợ bút nghiên (Nguyễn Duy Yên- Đoàn Kim Vân), NXB Văn học năm 2012.

NHAC PHỔ THƠ DUY YÊN- KIM VÂN

1- Xuân với tôi của nhiều nhạc sĩ phổ thơ của Duy Yên- Kim Vân (trên 100 bài) NXB Âm nhạc VN 2014.
A-Ngoài các tác phẩm chính hai tác giả còn có thơ văn, in trên một số tờ báo Trung ương và địa phương, và ở các tuyển tập thơ văn như:
1-Ngàn năm thơ trữ tình-NXB Hội Nhà văn năm 2004.
2-Đến với Thăng Long NXB Hội Nhà văn năm 2004.
3-AHLĐ giáo sư Vũ Khiêu người bạn thơ của chúng tôi –
NXB giáo dục 2005.
4-Thơ hái ở Long Thành NXB Hội Nhà văn 2005.
5-Khoảnh khắc NXB Hội Nhà văn 2007
6-Hoa nở đầu xuân CLB thơ dịch Hội Nhà văn Hà Nội
NXB Hội Nhà văn 2007.
7-Nói với thời gian NXB Hội Nhà văn 2008.
8-Nhớ bác Trường Chinh CLB thơ Hành Thiện NXB Thanh niên,
9-Bút xuân 1, Bút xuân 2 NXB Hà Nội năm 2006, 2008.
10-Hương ngoại ô, Hương Đất Việt NXB Lao Động 2004,
2006, 2008.
11-Văn hiến Việt NXB Hội Nhà văn 2009.
B-DIHAVINA (NXB Âm nhạc ) 1997, 1998 và Công ty cổ phần Mỹ thuật và vật phẩm Văn hoá Hà Nội năm
2005, 2006 đã xuất bản 10 ấn phẩm thơ và nhạc phổ thơ (CD-VCD) của Nguyễn Duy Yên và Đoàn Kim Vân
Các nhạc sĩ có tên tuổi phổ như : Trần Hoàn, Huy Du, Hoàng Vân, Nguyễn Đức Toàn, Huy Thục, Thuận Yến… và được các ca sĩ có tiếng thể hiện như: NSND Lê Dung, NSND Thanh Hoa, NSUT Linh Nhâm NSUT Trang Nhung , Thanh Hoài, Hồng Ngat, Văn Chương v.v...
III. Cặp Song Ca Hai Thế Kỷ.
Cảm nhận của Nhà thơ PHẠM TIẾN DUẬT khi đọc tập thơ Biển đời của tác giả Nguyễn Duy Yên và Đoàn Kim Vân
I
Biển đời là tên tập thơ thứ 4 của hai tác giả, cặp song ca hai thế kỷ: Nguyễn Duy Yên và Đoàn Kim Vân. Họ song ca trên thi đàn suốt từ thuở đôi mươi đến lúc bạc đầu mà như vẫn chưa già. Sở dĩ có tên tập thơ là Biển đời bởi nhà thơ chiến sĩ vệ quốc năm xưa Nguyễn Duy Yên có một bài thơ dài, có thể gọi là trường ca mang tên ấy. Trường ca Biển đời có 6 chương, đánh số từ I đến VI. Đọc đi đọc lại thấy có năm chương đời và một chương đạo. Đời là đời người, là các quan hệ và ứmg xử xã hội. Đạo là cái bao quát ở trên cao, chỉ dẫn cho lẽ sống, lối sống.
Cái chương mang chất đạo ấy là chương thứ V toàn văn như sau :
Biển đời bát ngát mênh mông
Bao điều bí ẩn trong lòng đại dương
Lối đi trăm nẻo ngàn phương
Con đường định mệnh đoạn trường ai hay
Ngọt bùi chua chát đắng cay
Luân hồi một kiếp vần xoay bộn bề
Tha hương mang nặng tình quê
Khát khao nỗi nhớ ngày về ước ao
Đất thì rộng trời thì cao
Biển đời sóng dữ dội vào quanh ta
Nắng mưa đâu có thuận hòa
Xanh đồng là bởi tay ta vun trồng.

Giọng thơ điềm tĩnh nay chi thấy ở Nguyễn Duy Yên chừng mươi năm nay khi các suy nghĩ cùng thơ đã tới độ chín. Nói theo cách nói của các triết gia Trung Hoa xưa thì đạo là hình nhi thượng và đời là hình nhi hạ. Các thiết chế xã hội mà Khổng Tử đặt ra như quân-thần-phụ-tử, quân-phu-phụ đều là hình nhi hạ. Còn với Trang Tử thì chỉ có hình nhi thượng mà thôi. Chính Khổng Tử cũng phải khâm phục Trang Tử ở tính uyên thâm.
Khổng Tử viết: ”Con chim kia nó bay trên trời; trời rộng không cùng. Nhưng ta vẫn có thể lấy tên mà bắn. Con cá kia có lội dưới nước; nước rộng không cùng. Nhưng ta vẫn có thể lấy lưới mà quăng. Đến như đạo của ông Trang thì ta không lấy gì quản lý cho được.
Trích dẫn câu nói ấy để nói rằng thơ tới được cõi đạo là phải trải qua bao trầm luân của cuộc đời thường.
Xuất thân từ môt họ tộc lớn, trong họ hàng còn có người có tên trên văn bia danh gia tại Văn Miếu, Quốc Tử Giám, tác giả Nguyễn Duy Yên và Đoàn Kim Vân là người quý trọng sự hiền tài, giao du rộng. Ấy là bối cảnh để các cô đúc thơ ngày một sâu rộng.
Sinh thời nhạc sĩ Trần Hoàn, nguyên Bộ trưởng Bộ Văn hoá-Thông tin ,nguyên Chủ tịch uỷ ban Toàn quốc Liên hiệp các hội văn học và nghệ thuật Việt Nam, khi phổ thơ của Nguyễn Duy Yên và Đoàn Kim Vân có nói rằng: ”Sự hiểu biết của anh, chị Yên, Vân rộng lớn lắm nên phải bắt được cái hồn mới phổ thành nhạc được“. Các nhạc sĩ hàng đầu của đất nước Việt Nam đương đại từ Huy Du, Nguyễn Đức Toàn, Hoàng Vân đến Trọng Bằng, từ Hồng Đăng, Huy Thục, Văn Dung đến La Thăng, Dân Huyền… đã cùng đồng cảm với hai tác giả, mà phổ nhạc một số bài thơ mang đậm nét trữ tình.
Và theo quan sát của tôi còn có một người gọi là anh cũng được, là bạn vong niên cũng được rất có thiện cảm với anh, chị Nguyễn Duy Yên và Đoàn Kim Vân, nên đã có thơ tặng, in trong ba tập thơ: Dặm đời, Chân trời mới, Biển đời. Đó là nhà triết học, giáo sư anh hùng lao động Vũ Khiêu, một nhà giáo, một nhà thơ, một nhà nho nữa. Bầu không khí trí thức và văn nghệ sĩ quanh hai tác giả nếu như ở Châu Âu thì họ gọi là “bầu không khí quý tộc“. Điều đó chỉ đúng bề ngoài thôi, bản chất thì không phải vậy. Cả hai tác giả vốn là dân dã và suốt đường dài chỉ thích sống dân dã. Một Việt kiều tại Mỹ, ông Nguyễn Ngọc Hoàn có mấy dòng sau đây:
Xuân nắng Cali rất dịu hiền
Trông vời thôn Thuỵ nhớ anh Yên

Thôn Thuỵ trong dòng thơ ấy tức thôn Thuỵ Lôi thuộc huyên Tiên Lữ, tỉnh Hưng Yên. Ngạn ngữ có câu “Bánh dày nếp cái, con gái Tiên Lữ “. Gái Tiên Lữ là vậy nhưng trai Tiên lữ vất vả, muốn thành tài phải có máu phiêu bạt. Và cái anh thanh niên tên Yên trong câu thơ cũng là người có máu phiêu bạt nhưng phiêu bạt một cách… cách mạng. Ngay từ thuở trẻ, Nguyễn Duy Yên đã phải rời xa quê nơi thật yên bình:
Nhớ tuổi thơ nhớ mái trường
Cây đa giếng nước ,con đường thuở xưa
Vẳng nghe vọng tiếng chuông chùa
Phố Suối sông Luộc sớm trưa đi về.

Từ tuổi thơ trong câu thơ ấy đến tuổi 80 như trong thoáng chốc, là người ở thế hệ đi sau, tôi mừng khi thấy tác giả Nguyễn Duy Yên còn tình tự được ở cái tuổi xưa nay hiếm, không phải tình tự với một thiếu nữ cụ thể mà tình tự với nàng xuân:
Xuân trẻ đẹp, xuân là muôn thuở
Đuổi theo nàng quên tuổi tám mươi
Nồng cháy con tim đầy mộng ước
Hai đứa song hành dạo gót chơi.

Thú nhất đoạn thơ vừa trích là câu cuối “hai đứa song hành …”, chữ đứa trong tiếng việt chỉ những người không chỉ giống nhau về độ tuổi mà còn ở nhiều điểm chung khác.
Câu thơ ấy là một sự kiêu ngầm: sánh với mùa xuân là sánh với sự bất tử. Nhưng dù sao đi nữa, ấy cũng là sự tình tự ước lệ, vu khoát từ trên cao, từ hình nhi thượng, từ cõi đạo Người.
II
Lật mở những trang thơ của mấy chục năm về trước, ta bắt gặp một Nguyễn Duy Yên trẻ trung với tình
cảm đời thường tinh tế trong nhớ nhung, chờ đợi, yêu đương… Đây là một đoạn trong bài Tiếc nuối có lẽ được
tác giả viết trước ngày giải phóng Thủ đô 1954.
Dẫu rằng trăm nhớ ngàn thương
Vẫn không ngăn nổi đôi đường cách xa
Từ ngày em lên xe hoa
Người về ngơ ngẩn vào ra một mình.

Và cả ở bài Dấu yêu nữa, không biết viết vào ngày tháng năm nào:
Người đi mang thương nhớ
Nỗi buồn buổi tiễn đưa
Dù xa nhau mãi mãi
Vẫn nguyên vẹn tình xưa

Những kỷ niệm như thế, đời người hẳn ai cũng có, như những đốm lửa đã tắt mà đôi khi còn hắt nóng ở những chặng đường sau. Cái buồn man mác của sự chia xa bao giờ cũng là cái buồn sang trọng.
Sông kia bên lở lại bên bồi
Bến cũ theo dòng lũ cuốn trôi
Người xưa vắng bóng tìm đâu thấy
Chỉ thấy chim sa tận cuối trời

(Bến xưa-1964)
Có thể, một vẻ đẹp cụ thể đã được nâng lên thành hình tượng của cái đẹp thẩm mỹ. Có thể tìm thấy điều này trong một bài thơ Nguyễn Duy Yên sáng tác cách đay đã gần sáu năm, bài thơ Tình lặng:
Thơ thẩn cô em đứng chờ ai
Tóc mây buông thõng toả hương nhài
Khách thơ chợt đến tình không nói
E lệ che nghiêng mái tóc dài.

Ấy là cô gái “chờ ai “, tức là chờ bạn trai của cô ta chứ mắc mớ gì đến tác giả. Thế mà quen, thế mà hẹn, thế mà nhớ, thế mà buồn. Nghe thơ nàykhông biết người bạn đời, bạn thơ Đoàn Kim Vân có ghen không:
Mà có gì đâu để nhớ nhau
Một thoáng tơ vương một chút sầu
Ngược xuôi đôi ngả đường van nẻo
Tình lặng thôi đành hẹn kiếp sau.

Nhưng đọc kĩ, thấy ghen mà làm gì vì người đẹp trong thơ cũng như người đẹp trong tranh. Chính tác giả đã vẽ như như vậy:
Từ ấy mang theo bệnh tương tư
Khắc khoải ngày đêm đợi ngóng chờ
Để rồi tất cả tan theo mộng
Người đẹp chỉ còn trong ý thơ.

Vâng, tôi không có ý bình luận tổng quat về bài thơ “giọng ca nam “ Nguyễn Duy Yên trước khi nói về ”giọng ca nữ” Đoàn Kim Vân mà chỉ muốn nói rằng, thơ Nguyễn Duy Yên khi đạo cũng rất đạo và khi đời cũng rất đời.
Nếu cần bình chọn một trong những bài thơ xuất sắc nhất của Nguyễn Duy Yên trong tập thơ thứ 4 này, không thể thiếu bài Rừng chiều. Bài thơ bốn khổ vẻn vẹn 16 dòng mà man mác buồn. Thời gian tác giả chọn là lúc ngày sắp hết, đêm sắp sang:
Tôi muốn ôm hôn bóng dáng chiều
Chẳng có gì đau một chút yêu
Hoàng hôn trĩu nặng gieo tình lặng
Tia nắng cuối cùng cũng hắt theo

Người đọc như ngợp trong khung cảnh tĩnh lặng, một màu nâu tối của tiếng kèn pha-gốt:
Dốc vắng lối đi mòn sỏi đá
Rừng chiều le lói bóng tà dương
Sương pha màu khói miền sơn cước
Thấp thoáng nẻo xa mấy bản Mường.

Ngỡ như tranh Lêvitan, thấy cây, thấy cảnh, mà tĩnh lặng người, có đấy mà không đấy:
Trâu về lốc cốc mõ khua vang
Nương rẫy xanh xanh lốm đốm vàng
Dòng nước suối khe tuôn róc rách
Đi mải về đâu bóng áo chàm.

Còn nắng thì còn thơ, tắt nắng thì thơ cũng dừng. Tô Đông Pha viết :”Ý hết ở đâu thì lời dừng ở đó là thơ mực thước. Lời hết mà ý không dừng là thơ trác việt “. Cái cô đơn ở bài này là sự không dừng:
Rừng chiều tắt nắng ngả màu đen
Mờ nhạt xa xa mấy ánh đèn
Rừng khuya vắng lặng âm u quá
Canh trời còn lại ánh sao đêm.
III
Song hành cùng Nguyễn Duy Yên, thơ Đoàn Kim Vân đến hồi bùng nở như một mùa hoa có muôn loài rực rỡ. Cái khác về chất của giọng của nữ so với giọng nam cùng tập là thơ Đoàn Kim Vân nô nức hơn, tập trung hơn, người đọc thấy cuống lên khi gặp ở tập Bển đời một cuộc duyệt binh mà vị tổng tư lệnh là Đoàn Kim Vân và người diễu qua khán đài là các loài hoa. Cho đến nỗi, tôi phải cố tra từ điển để biết loài hoa này khác loài hoa kia.
Trà hoa thưởng thức mừng xuân
Hồng hoa thanh nhiệt tinh thần thêm vui

Trà hoa có phải là loại có tên là camellia, mà Trà hoa tác giả nói là loài Camellia of Japan hay loài Yellow Camellia? Là loài Water plantago hay loài Water plantain?
Hoa Tam thất chữa tiền đình
Trừ phong hoạt huyết lạc kinh phục hồi
Cúc hoa chữa sáng con ngươi
Thuỷ tiên kết hợp để rồi phát huy

Không biết loài cúc tác giả nói tới ở đâylà loại cúc nào, nếu là cúc vàng thì dùng để chữa chóng mặt, nhức đầu và cả tinh mắt nữa. Còn loài Thuỷ tiên thì ở Nhật Bản coi là sự kết hợp của biểu tượng vương giả, thanh tao và kiêu hãnh nữa.
Phù dung chữa bệnh béo phì
Hồng hoa công dụng phòng khi mạch vành.

Phù dung ở Mỹ gọi là Rose nallow, sớm nở tối tàn. Còn loại hồng chữa bệnh tim tôi thật không biết tra cứu vào đâu. Chỉ thấy nói hoa Hồng leo (Climbing Rose) chữa bệnh say rượu thôi.
Không dừng lại ở đó trong Những bông hoa rừng Đoàn Kim Vân nhắc đến hoa Dã quỳ:
Dù cho giông tố bão bùng
Dã quỳ vẫn nở giữa rừng Tây Nguyên
Tác giả có cả một bài về hoa Anh túc.
Nàng tiên nâu ẩn náu trong hoa
Đó là loài hoa đẹp mà phải lên án, khác hẳn loài hoa Quỳnh trong bài thơ Kiếp hoa Quỳnh .
Em từ kẽ lá nở ra
Quỳnh hoa em đẹp như là dáng tiên
Thẹn thùng khoe sắc về đêm
Đợi người quân tử bên thềm ngắm trăng
Hoa cười cánh trắng như bông
Sao nhanh tàn héo cho lòng ai đau ?
Bạn cùng trăng gió đêm thâu

Kiếp hoa để lại nỗi sầu thi nhân
Xin cung cấp thêm tư liệu cho tác giả: Hoa Quỳnh còn được gọi là Hoàng hậu của màn đêm. Dạ hội thơ ngắm hoa Quỳnh nở lần đầu tiên được tổ chức tại Việt Nam vào mùa thu năm 1939 tại nhà hàng chế dầu huynh diệp mang tên Viễn Đệ ở Huế. Tên khoa học của loài hoa Quỳnh là phyllocatus và đúng là kiếp hoa để lại nỗi sầu thi nhân .
Bà Đoàn Kim Vân còn viết về hoa Nguyệt quế:
Nhỏ nhắn xinh tươi trắng nõn nà
Đêm còn ươm nụ sáng đầy hoa

Từ các loài hoa thật, nữ thi sĩ viết về các thành phố hoa. Ấy là Đà Lạt:
Đà Lạt lung linh một góc trời
Hoa đèn hoà quyện với hoa tươi.

Ấy là Sa Pa:
Cầu Mây soi bóng suối SaPa
Thấp thoáng cao cao mấy nóc nhà.

Và cũng từ những loài hoa thật, nữ thi sĩ viết về “bông hoa người “, ba cô con dâu mang tên ba loài hoa: Kim Cúc, Mai Hồng, Vân Anh:
Cúc vàng chào đón thu sang
Hồng tô sắc thắm dịu dàng nở hoa
Anh đào cánh trắng nõn nà

Bốn mùa hoà quyện vườn nhà toả hương.
Hoa đời, 2-2007
Tôi đi giữa các bài thơ của tác giả Đoàn Kim Vân như đi lạc vào trong các vườn hoa, không biết lối ra chỉ thấy hương thơm của sự sang trọng mà không thấy bao quá khứ vất vả. Tôi chỉ ngửi thấy hương thơm của hoa, không thấy mùi nhựa cây, mùi hăng hăng của mùn cưa, không gian tĩnh lặng đã xoá đi cái ồn ào vốn có của xưởng sản xuất đồ gỗ Mỹ Hà là một trong những doanh nghiệp nổi tiếng trong và ngoài nước, nơi mà nữ sĩ Đoàn Kim Vân đã sáng lập và làm giám đốc.
Với tư cách là nhà thơ, đồng thời cũng là một nhà báo chuyên nghiệp tôi đã đọc rất nhiều bài báo ca tụng giám đốc sáng lập công ty Mỹ Hà là bà Đoàn Kim Vân, một danh nhân văn hoá, dân tộc với hiện đại, người đời ca tụng thôi chứ tác giả khiêm nhường không tự nói về mình, chỉ thấy một thoáng buồn lúc tác giả nằm viện. Trong bài Tự sự, Đoàn Kim Vân viết:
Nhìn đời sóng mắt mờ sương khói
Ngán ngẩm nhân tình bạc tựa vôi
Tai chẳng muốn nghe lời kiệm nói
Sống đẹp sao đây trọn kiếp người.

Bài thơ còn được chú thích bằng một dòng nghe rất đỗi thê lương như sau: “Viết bài này vào tuổi 70, mắt mờ, tai nặng”. May mà chỉ có mấy tuần ở trong cảnh ấy thôi.
Bây giờ thì khác. Không có một cụ già 70 tuổi nào tên là thế.
Chỉ có một chị phụ nữ hơi cứng tuổi, tai tinh mắt sáng tên là Đoàn Kim Vân mà thôi. Ấy là người không nợ ai tiền bạc nhưng nợ tình thì vương vấn mãi:
Biển lặng mà tình sao không lặng
Xuân qua rồi vẫn nặng tình xuân
Tháng năm dồn góp bao thương nhớ
Xuôi ngược dòng đời nợ ái ân.

Ấy chính là con người không bao giờ ngừng nghỉ trong việc đi tìm cái đẹp:
Người đi tìm kiếm bạc vàng
Riêng tôi tìm lấy một nàng thơ chơi
Ngẫm xem những tấn trò đời
Ai mà tìm thấy mặt trời nửa đêm.
IV
Ngay ở đầu bài này tôi đã gọi vui hai tác giả thơ Nguyễn Duy Yên và Đoàn Kim Vân là “cặp song ca hai thế kỷ”. Cũng bởi thế, đề tài thơ của hai tác giả có thể coi là một, có thể sắp xếp một tuyển tập thơ (có lẽ gần tới nghìn bài thơ) cả hai, nếu biên tập, theo trình tự sau đây:
1-Quê hương
2-Tuổi hoa niên
3-Hà Nội
4-Những thành phố và những miền quê
5-Những hồ nước và những dòng sông
6-Thơ xuân
7-Thơ xướng hoạ
8-Thế sự
9-Chợ tình, chợ quê
10-Đình, đền, chùa, miếu.
Có một tuyển tập thơ như thế hẳn rất thú vị. Điều mà tôi mong được đọc nhiều hơn, biết nhiều hơn từ hai tác giả là những chặng đường vất vả một thời (những năm tháng quân nhân của tác giả Nguyễn Duy Yên, những năm tháng tần tảo, một thời bao cấp vất vả của nữ sĩ Đoàn Kim Vân). Cái chung trong thơ hai tác giả khá đa dạng rồi mà hình như còn hơi ít cái riêng. Cái được thì cũng đã rõ, nhưng cái mất cũng là nhu cầu mà bạn đọc quan tâm. Nói như trong bài Nỗi niềm của Đoàn Kim Vân:
Dễ đâu gặp được bạn hiền
Để cùng chia sẻ nỗi niềm hân hoan
Ước mơ cuộc sống thanh nhàn
Mà sao nặng gánh trần gian kiếp người.

Cũng bởi nặng gánh đời nên phải gánh thơ. Chúc tác giả Nguyễn Duy Yên, tác giả Đoàn Kim Vân trẻ mãi trong đời và trong thơ. Chúc âm nhạc thơ của cặp song ca hai thế kỷ ngân mãi những bài ca bất tử.
Mùa hè, 2007
Nhà thơ PHẠM TIẾN DUẬT

S


I. Tiểu Sử Hai Nhà Thơ
Nguyễn Duy Yên - Nhà dịch giả
Sinh năm 1931 tại làng Thụy Lôi, huyện Tiên Lữ, tỉnh Hưng Yên trong gia đình truyền thống Khoa bảng. Ông nội là Nghị viên Bắc kỳ, Đô úy vùng Tuyên Quang, ông ngoại là danh nhân Việt Nam - Nhà Văn Hóa Phan Kế Bính. Cha đẻ là nhà giáo thời Pháp thuộc, hoạt động Cách mạng, là Đảng viên Đảng Cộng Sản Việt Nam. Mẹ là con gái thứ ba của nhà văn hóa danh nhân Phan Kế Bính.
Năm 1949 Tốt nghiệp Trung học, gia nhập quân đội, học viện lục quân Trần Quốc Tuấn(Khóa V).
Năm 1957 chuyển ngành sang Bộ Nông Lâm.
Năm 1959 - học viên Học Viện thủy lợi(khóa 1959 - 1963).
Năm 1963 về công tác tại Bộ Thủy Lợi đến khi được nghỉ hưu.
Huân chương Chiến thắng - Hạng II.
Huân chương Chống Mỹ cứu nước - Hạng I.
Thường trú: 12 Y Miếu-Phường Văn Miếu-Đống Đa-Hà Nội.
Hội viên Hôi Nhà Văn Hà nội
Phó chủ nhiệm CLB thơ dịch Hội nhà văn Hà Nội –CLB sáng tác văn học, nghệ thuật Vịêt Nam.
Chủ nhiệm CLB thơ Văn Miếu Hà Nội.
Đoàn Kim Vân .
Năm sinh: 1936
Quê quán: Thụy Lôi-Tiên Lữ-Hưng Yên .
Thường trú: 12 Y Miếu-Phường Văn Miếu-Đống Đa-Hà Nội.
Quá trình công tác:
1960-1962: Vụ Bảo tồn Bảo tàng (thuộc Bộ Văn hoá)
1962-1964: Thư viện Quốc gia (thuộc Bộ Văn hoá)
1964-1966: Bộ ngoại thương- Nhà máy hoa quả
1966-1985: Trung Ương Hội Đông Y Việt Nam,CB nghỉ hưu
1985-2009: Chủ nhiệm HTX Mỹ Hà (Nay là Công ty Đồ gỗ Mỹ Hà)
 Hội viên Hội Nhà Văn Hà Nội..
Huân chương Chống Mỹ cứu nước Hạng II.
Hiện nay Bà đang là PGĐ Trung tâm Văn học Nghệ thuật các Câu lạc bộ Thăng Long Thi Xã và là phó chi hội Tán Trợ Thăng Long- Hội Chữ Thập Đỏ- TP Hà Nội.
II. Các Tác Phẩm Chính
Nguyễn Duy Yên – Đoàn Kim Vân
Tác phẩm chính in chung đã xuất bản
1-Tiếng lòng (thơ)NXB Văn hoá- Thông tin 1997,
tái bản lần thứ I-năm 2003.
2-Dặm đời (thơ) NXB Văn học năm 2000 và tái bản lần thứ I –năm 2003.
3-Chân trời mới (thơ) NXB Văn học năm 2003.
4-Biển đời (thơ) NXB Văn học năm 2007.
5-Tuyển tập thơ  NXB Văn học năm 2009
Đoàn Kim Vân
Tác phẩm in riêng :
1-Ngược dòng thời gian. NXB Văn học năm 2008.
2-Mùa hoa nhãn ,NXB Hội Nhà Văn 2010.
3-Lăng kính thơ NXB Hội Nhà văn năm 2014.
4- Tiếng lòng gọi những tiếng lòng- In chung 2 chị em Đoàn Kim Văn- Đoàn Xuân Quỳ năm 2007.
In 1 cuốn bán đấu giá lấy tiền làm từ thiện giúp học sinh nghèo vượt khó tỉnh Bến tre(16-11-2007), số tiền thu được trên 80 triệu đồng.
Nguyễn Duy Yên
Tác phẩm in riêng :
1-Mênh mang …xuân – NXB Văn học 2010.
2- Một thoáng hương xưa- NXB Hội Nha văn năm 2010.
3- Muôn nẻo đường thơ NXB Văn học năm 2012.
Biên soạn chung
1-Trăng với thi nhân Việt nam (Nguyễn Trần Phụng- Nguyễn Duy Yên- Đoàn Kim Vân.NXBVăn học-2010
2-Nợ bút nghiên (Nguyễn Duy Yên- Đoàn Kim Vân), NXB Văn học năm 2012.

NHAC PHỔ THƠ DUY YÊN- KIM VÂN

1- Xuân với tôi của nhiều nhạc sĩ phổ thơ của Duy Yên- Kim Vân (trên 100 bài) NXB Âm nhạc VN 2014.
A-Ngoài các tác phẩm chính hai tác giả còn có thơ văn, in trên một số tờ báo Trung ương và địa phương, và ở các tuyển tập thơ văn như:
1-Ngàn năm thơ trữ tình-NXB Hội Nhà văn năm 2004.
2-Đến với Thăng Long NXB Hội Nhà văn năm 2004.
3-AHLĐ giáo sư Vũ Khiêu người bạn thơ của chúng tôi –
NXB giáo dục 2005.
4-Thơ hái ở Long Thành NXB Hội Nhà văn 2005.
5-Khoảnh khắc NXB Hội Nhà văn 2007
6-Hoa nở đầu xuân CLB thơ dịch Hội Nhà văn Hà Nội
NXB Hội Nhà văn 2007.
7-Nói với thời gian NXB Hội Nhà văn 2008.
8-Nhớ bác Trường Chinh CLB thơ Hành Thiện NXB Thanh niên,
9-Bút xuân 1, Bút xuân 2 NXB Hà Nội năm 2006, 2008.
10-Hương ngoại ô, Hương Đất Việt NXB Lao Động 2004,
2006, 2008.
11-Văn hiến Việt NXB Hội Nhà văn 2009.
B-DIHAVINA (NXB Âm nhạc ) 1997, 1998 và Công ty cổ phần Mỹ thuật và vật phẩm Văn hoá Hà Nội năm
2005, 2006 đã xuất bản 10 ấn phẩm thơ và nhạc phổ thơ (CD-VCD) của Nguyễn Duy Yên và Đoàn Kim Vân
Các nhạc sĩ có tên tuổi phổ như : Trần Hoàn, Huy Du, Hoàng Vân, Nguyễn Đức Toàn, Huy Thục, Thuận Yến… và được các ca sĩ có tiếng thể hiện như: NSND Lê Dung, NSND Thanh Hoa, NSUT Linh Nhâm NSUT Trang Nhung , Thanh Hoài, Hồng Ngat, Văn Chương v.v...
III. Cặp Song Ca Hai Thế Kỷ.
Cảm nhận của Nhà thơ PHẠM TIẾN DUẬT khi đọc tập thơ Biển đời của tác giả Nguyễn Duy Yên và Đoàn Kim Vân
I
Biển đời là tên tập thơ thứ 4 của hai tác giả, cặp song ca hai thế kỷ: Nguyễn Duy Yên và Đoàn Kim Vân. Họ song ca trên thi đàn suốt từ thuở đôi mươi đến lúc bạc đầu mà như vẫn chưa già. Sở dĩ có tên tập thơ là Biển đời bởi nhà thơ chiến sĩ vệ quốc năm xưa Nguyễn Duy Yên có một bài thơ dài, có thể gọi là trường ca mang tên ấy. Trường ca Biển đời có 6 chương, đánh số từ I đến VI. Đọc đi đọc lại thấy có năm chương đời và một chương đạo. Đời là đời người, là các quan hệ và ứmg xử xã hội. Đạo là cái bao quát ở trên cao, chỉ dẫn cho lẽ sống, lối sống.
Cái chương mang chất đạo ấy là chương thứ V toàn văn như sau :
Biển đời bát ngát mênh mông
Bao điều bí ẩn trong lòng đại dương
Lối đi trăm nẻo ngàn phương
Con đường định mệnh đoạn trường ai hay
Ngọt bùi chua chát đắng cay
Luân hồi một kiếp vần xoay bộn bề
Tha hương mang nặng tình quê
Khát khao nỗi nhớ ngày về ước ao
Đất thì rộng trời thì cao
Biển đời sóng dữ dội vào quanh ta
Nắng mưa đâu có thuận hòa
Xanh đồng là bởi tay ta vun trồng.

Giọng thơ điềm tĩnh nay chi thấy ở Nguyễn Duy Yên chừng mươi năm nay khi các suy nghĩ cùng thơ đã tới độ chín. Nói theo cách nói của các triết gia Trung Hoa xưa thì đạo là hình nhi thượng và đời là hình nhi hạ. Các thiết chế xã hội mà Khổng Tử đặt ra như quân-thần-phụ-tử, quân-phu-phụ đều là hình nhi hạ. Còn với Trang Tử thì chỉ có hình nhi thượng mà thôi. Chính Khổng Tử cũng phải khâm phục Trang Tử ở tính uyên thâm.
Khổng Tử viết: ”Con chim kia nó bay trên trời; trời rộng không cùng. Nhưng ta vẫn có thể lấy tên mà bắn. Con cá kia có lội dưới nước; nước rộng không cùng. Nhưng ta vẫn có thể lấy lưới mà quăng. Đến như đạo của ông Trang thì ta không lấy gì quản lý cho được.
Trích dẫn câu nói ấy để nói rằng thơ tới được cõi đạo là phải trải qua bao trầm luân của cuộc đời thường.
Xuất thân từ môt họ tộc lớn, trong họ hàng còn có người có tên trên văn bia danh gia tại Văn Miếu, Quốc Tử Giám, tác giả Nguyễn Duy Yên và Đoàn Kim Vân là người quý trọng sự hiền tài, giao du rộng. Ấy là bối cảnh để các cô đúc thơ ngày một sâu rộng.
Sinh thời nhạc sĩ Trần Hoàn, nguyên Bộ trưởng Bộ Văn hoá-Thông tin ,nguyên Chủ tịch uỷ ban Toàn quốc Liên hiệp các hội văn học và nghệ thuật Việt Nam, khi phổ thơ của Nguyễn Duy Yên và Đoàn Kim Vân có nói rằng: ”Sự hiểu biết của anh, chị Yên, Vân rộng lớn lắm nên phải bắt được cái hồn mới phổ thành nhạc được“. Các nhạc sĩ hàng đầu của đất nước Việt Nam đương đại từ Huy Du, Nguyễn Đức Toàn, Hoàng Vân đến Trọng Bằng, từ Hồng Đăng, Huy Thục, Văn Dung đến La Thăng, Dân Huyền… đã cùng đồng cảm với hai tác giả, mà phổ nhạc một số bài thơ mang đậm nét trữ tình.
Và theo quan sát của tôi còn có một người gọi là anh cũng được, là bạn vong niên cũng được rất có thiện cảm với anh, chị Nguyễn Duy Yên và Đoàn Kim Vân, nên đã có thơ tặng, in trong ba tập thơ: Dặm đời, Chân trời mới, Biển đời. Đó là nhà triết học, giáo sư anh hùng lao động Vũ Khiêu, một nhà giáo, một nhà thơ, một nhà nho nữa. Bầu không khí trí thức và văn nghệ sĩ quanh hai tác giả nếu như ở Châu Âu thì họ gọi là “bầu không khí quý tộc“. Điều đó chỉ đúng bề ngoài thôi, bản chất thì không phải vậy. Cả hai tác giả vốn là dân dã và suốt đường dài chỉ thích sống dân dã. Một Việt kiều tại Mỹ, ông Nguyễn Ngọc Hoàn có mấy dòng sau đây:
Xuân nắng Cali rất dịu hiền
Trông vời thôn Thuỵ nhớ anh Yên

Thôn Thuỵ trong dòng thơ ấy tức thôn Thuỵ Lôi thuộc huyên Tiên Lữ, tỉnh Hưng Yên. Ngạn ngữ có câu “Bánh dày nếp cái, con gái Tiên Lữ “. Gái Tiên Lữ là vậy nhưng trai Tiên lữ vất vả, muốn thành tài phải có máu phiêu bạt. Và cái anh thanh niên tên Yên trong câu thơ cũng là người có máu phiêu bạt nhưng phiêu bạt một cách… cách mạng. Ngay từ thuở trẻ, Nguyễn Duy Yên đã phải rời xa quê nơi thật yên bình:
Nhớ tuổi thơ nhớ mái trường
Cây đa giếng nước ,con đường thuở xưa
Vẳng nghe vọng tiếng chuông chùa
Phố Suối sông Luộc sớm trưa đi về.

Từ tuổi thơ trong câu thơ ấy đến tuổi 80 như trong thoáng chốc, là người ở thế hệ đi sau, tôi mừng khi thấy tác giả Nguyễn Duy Yên còn tình tự được ở cái tuổi xưa nay hiếm, không phải tình tự với một thiếu nữ cụ thể mà tình tự với nàng xuân:
Xuân trẻ đẹp, xuân là muôn thuở
Đuổi theo nàng quên tuổi tám mươi
Nồng cháy con tim đầy mộng ước
Hai đứa song hành dạo gót chơi.

Thú nhất đoạn thơ vừa trích là câu cuối “hai đứa song hành …”, chữ đứa trong tiếng việt chỉ những người không chỉ giống nhau về độ tuổi mà còn ở nhiều điểm chung khác.
Câu thơ ấy là một sự kiêu ngầm: sánh với mùa xuân là sánh với sự bất tử. Nhưng dù sao đi nữa, ấy cũng là sự tình tự ước lệ, vu khoát từ trên cao, từ hình nhi thượng, từ cõi đạo Người.
II
Lật mở những trang thơ của mấy chục năm về trước, ta bắt gặp một Nguyễn Duy Yên trẻ trung với tình
cảm đời thường tinh tế trong nhớ nhung, chờ đợi, yêu đương… Đây là một đoạn trong bài Tiếc nuối có lẽ được
tác giả viết trước ngày giải phóng Thủ đô 1954.
Dẫu rằng trăm nhớ ngàn thương
Vẫn không ngăn nổi đôi đường cách xa
Từ ngày em lên xe hoa
Người về ngơ ngẩn vào ra một mình.

Và cả ở bài Dấu yêu nữa, không biết viết vào ngày tháng năm nào:
Người đi mang thương nhớ
Nỗi buồn buổi tiễn đưa
Dù xa nhau mãi mãi
Vẫn nguyên vẹn tình xưa

Những kỷ niệm như thế, đời người hẳn ai cũng có, như những đốm lửa đã tắt mà đôi khi còn hắt nóng ở những chặng đường sau. Cái buồn man mác của sự chia xa bao giờ cũng là cái buồn sang trọng.
Sông kia bên lở lại bên bồi
Bến cũ theo dòng lũ cuốn trôi
Người xưa vắng bóng tìm đâu thấy
Chỉ thấy chim sa tận cuối trời

(Bến xưa-1964)
Có thể, một vẻ đẹp cụ thể đã được nâng lên thành hình tượng của cái đẹp thẩm mỹ. Có thể tìm thấy điều này trong một bài thơ Nguyễn Duy Yên sáng tác cách đay đã gần sáu năm, bài thơ Tình lặng:
Thơ thẩn cô em đứng chờ ai
Tóc mây buông thõng toả hương nhài
Khách thơ chợt đến tình không nói
E lệ che nghiêng mái tóc dài.

Ấy là cô gái “chờ ai “, tức là chờ bạn trai của cô ta chứ mắc mớ gì đến tác giả. Thế mà quen, thế mà hẹn, thế mà nhớ, thế mà buồn. Nghe thơ nàykhông biết người bạn đời, bạn thơ Đoàn Kim Vân có ghen không:
Mà có gì đâu để nhớ nhau
Một thoáng tơ vương một chút sầu
Ngược xuôi đôi ngả đường van nẻo
Tình lặng thôi đành hẹn kiếp sau.

Nhưng đọc kĩ, thấy ghen mà làm gì vì người đẹp trong thơ cũng như người đẹp trong tranh. Chính tác giả đã vẽ như như vậy:
Từ ấy mang theo bệnh tương tư
Khắc khoải ngày đêm đợi ngóng chờ
Để rồi tất cả tan theo mộng
Người đẹp chỉ còn trong ý thơ.

Vâng, tôi không có ý bình luận tổng quat về bài thơ “giọng ca nam “ Nguyễn Duy Yên trước khi nói về ”giọng ca nữ” Đoàn Kim Vân mà chỉ muốn nói rằng, thơ Nguyễn Duy Yên khi đạo cũng rất đạo và khi đời cũng rất đời.
Nếu cần bình chọn một trong những bài thơ xuất sắc nhất của Nguyễn Duy Yên trong tập thơ thứ 4 này, không thể thiếu bài Rừng chiều. Bài thơ bốn khổ vẻn vẹn 16 dòng mà man mác buồn. Thời gian tác giả chọn là lúc ngày sắp hết, đêm sắp sang:
Tôi muốn ôm hôn bóng dáng chiều
Chẳng có gì đau một chút yêu
Hoàng hôn trĩu nặng gieo tình lặng
Tia nắng cuối cùng cũng hắt theo

Người đọc như ngợp trong khung cảnh tĩnh lặng, một màu nâu tối của tiếng kèn pha-gốt:
Dốc vắng lối đi mòn sỏi đá
Rừng chiều le lói bóng tà dương
Sương pha màu khói miền sơn cước
Thấp thoáng nẻo xa mấy bản Mường.

Ngỡ như tranh Lêvitan, thấy cây, thấy cảnh, mà tĩnh lặng người, có đấy mà không đấy:
Trâu về lốc cốc mõ khua vang
Nương rẫy xanh xanh lốm đốm vàng
Dòng nước suối khe tuôn róc rách
Đi mải về đâu bóng áo chàm.

Còn nắng thì còn thơ, tắt nắng thì thơ cũng dừng. Tô Đông Pha viết :”Ý hết ở đâu thì lời dừng ở đó là thơ mực thước. Lời hết mà ý không dừng là thơ trác việt “. Cái cô đơn ở bài này là sự không dừng:
Rừng chiều tắt nắng ngả màu đen
Mờ nhạt xa xa mấy ánh đèn
Rừng khuya vắng lặng âm u quá
Canh trời còn lại ánh sao đêm.
III
Song hành cùng Nguyễn Duy Yên, thơ Đoàn Kim Vân đến hồi bùng nở như một mùa hoa có muôn loài rực rỡ. Cái khác về chất của giọng của nữ so với giọng nam cùng tập là thơ Đoàn Kim Vân nô nức hơn, tập trung hơn, người đọc thấy cuống lên khi gặp ở tập Bển đời một cuộc duyệt binh mà vị tổng tư lệnh là Đoàn Kim Vân và người diễu qua khán đài là các loài hoa. Cho đến nỗi, tôi phải cố tra từ điển để biết loài hoa này khác loài hoa kia.
Trà hoa thưởng thức mừng xuân
Hồng hoa thanh nhiệt tinh thần thêm vui

Trà hoa có phải là loại có tên là camellia, mà Trà hoa tác giả nói là loài Camellia of Japan hay loài Yellow Camellia? Là loài Water plantago hay loài Water plantain?
Hoa Tam thất chữa tiền đình
Trừ phong hoạt huyết lạc kinh phục hồi
Cúc hoa chữa sáng con ngươi
Thuỷ tiên kết hợp để rồi phát huy

Không biết loài cúc tác giả nói tới ở đâylà loại cúc nào, nếu là cúc vàng thì dùng để chữa chóng mặt, nhức đầu và cả tinh mắt nữa. Còn loài Thuỷ tiên thì ở Nhật Bản coi là sự kết hợp của biểu tượng vương giả, thanh tao và kiêu hãnh nữa.
Phù dung chữa bệnh béo phì
Hồng hoa công dụng phòng khi mạch vành.

Phù dung ở Mỹ gọi là Rose nallow, sớm nở tối tàn. Còn loại hồng chữa bệnh tim tôi thật không biết tra cứu vào đâu. Chỉ thấy nói hoa Hồng leo (Climbing Rose) chữa bệnh say rượu thôi.
Không dừng lại ở đó trong Những bông hoa rừng Đoàn Kim Vân nhắc đến hoa Dã quỳ:
Dù cho giông tố bão bùng
Dã quỳ vẫn nở giữa rừng Tây Nguyên
Tác giả có cả một bài về hoa Anh túc.
Nàng tiên nâu ẩn náu trong hoa
Đó là loài hoa đẹp mà phải lên án, khác hẳn loài hoa Quỳnh trong bài thơ Kiếp hoa Quỳnh .
Em từ kẽ lá nở ra
Quỳnh hoa em đẹp như là dáng tiên
Thẹn thùng khoe sắc về đêm
Đợi người quân tử bên thềm ngắm trăng
Hoa cười cánh trắng như bông
Sao nhanh tàn héo cho lòng ai đau ?
Bạn cùng trăng gió đêm thâu

Kiếp hoa để lại nỗi sầu thi nhân
Xin cung cấp thêm tư liệu cho tác giả: Hoa Quỳnh còn được gọi là Hoàng hậu của màn đêm. Dạ hội thơ ngắm hoa Quỳnh nở lần đầu tiên được tổ chức tại Việt Nam vào mùa thu năm 1939 tại nhà hàng chế dầu huynh diệp mang tên Viễn Đệ ở Huế. Tên khoa học của loài hoa Quỳnh là phyllocatus và đúng là kiếp hoa để lại nỗi sầu thi nhân .
Bà Đoàn Kim Vân còn viết về hoa Nguyệt quế:
Nhỏ nhắn xinh tươi trắng nõn nà
Đêm còn ươm nụ sáng đầy hoa

Từ các loài hoa thật, nữ thi sĩ viết về các thành phố hoa. Ấy là Đà Lạt:
Đà Lạt lung linh một góc trời
Hoa đèn hoà quyện với hoa tươi.

Ấy là Sa Pa:
Cầu Mây soi bóng suối SaPa
Thấp thoáng cao cao mấy nóc nhà.

Và cũng từ những loài hoa thật, nữ thi sĩ viết về “bông hoa người “, ba cô con dâu mang tên ba loài hoa: Kim Cúc, Mai Hồng, Vân Anh:
Cúc vàng chào đón thu sang
Hồng tô sắc thắm dịu dàng nở hoa
Anh đào cánh trắng nõn nà

Bốn mùa hoà quyện vườn nhà toả hương.
Hoa đời, 2-2007
Tôi đi giữa các bài thơ của tác giả Đoàn Kim Vân như đi lạc vào trong các vườn hoa, không biết lối ra chỉ thấy hương thơm của sự sang trọng mà không thấy bao quá khứ vất vả. Tôi chỉ ngửi thấy hương thơm của hoa, không thấy mùi nhựa cây, mùi hăng hăng của mùn cưa, không gian tĩnh lặng đã xoá đi cái ồn ào vốn có của xưởng sản xuất đồ gỗ Mỹ Hà là một trong những doanh nghiệp nổi tiếng trong và ngoài nước, nơi mà nữ sĩ Đoàn Kim Vân đã sáng lập và làm giám đốc.
Với tư cách là nhà thơ, đồng thời cũng là một nhà báo chuyên nghiệp tôi đã đọc rất nhiều bài báo ca tụng giám đốc sáng lập công ty Mỹ Hà là bà Đoàn Kim Vân, một danh nhân văn hoá, dân tộc với hiện đại, người đời ca tụng thôi chứ tác giả khiêm nhường không tự nói về mình, chỉ thấy một thoáng buồn lúc tác giả nằm viện. Trong bài Tự sự, Đoàn Kim Vân viết:
Nhìn đời sóng mắt mờ sương khói
Ngán ngẩm nhân tình bạc tựa vôi
Tai chẳng muốn nghe lời kiệm nói
Sống đẹp sao đây trọn kiếp người.

Bài thơ còn được chú thích bằng một dòng nghe rất đỗi thê lương như sau: “Viết bài này vào tuổi 70, mắt mờ, tai nặng”. May mà chỉ có mấy tuần ở trong cảnh ấy thôi.
Bây giờ thì khác. Không có một cụ già 70 tuổi nào tên là thế.
Chỉ có một chị phụ nữ hơi cứng tuổi, tai tinh mắt sáng tên là Đoàn Kim Vân mà thôi. Ấy là người không nợ ai tiền bạc nhưng nợ tình thì vương vấn mãi:
Biển lặng mà tình sao không lặng
Xuân qua rồi vẫn nặng tình xuân
Tháng năm dồn góp bao thương nhớ
Xuôi ngược dòng đời nợ ái ân.

Ấy chính là con người không bao giờ ngừng nghỉ trong việc đi tìm cái đẹp:
Người đi tìm kiếm bạc vàng
Riêng tôi tìm lấy một nàng thơ chơi
Ngẫm xem những tấn trò đời
Ai mà tìm thấy mặt trời nửa đêm.
IV
Ngay ở đầu bài này tôi đã gọi vui hai tác giả thơ Nguyễn Duy Yên và Đoàn Kim Vân là “cặp song ca hai thế kỷ”. Cũng bởi thế, đề tài thơ của hai tác giả có thể coi là một, có thể sắp xếp một tuyển tập thơ (có lẽ gần tới nghìn bài thơ) cả hai, nếu biên tập, theo trình tự sau đây:
1-Quê hương
2-Tuổi hoa niên
3-Hà Nội
4-Những thành phố và những miền quê
5-Những hồ nước và những dòng sông
6-Thơ xuân
7-Thơ xướng hoạ
8-Thế sự
9-Chợ tình, chợ quê
10-Đình, đền, chùa, miếu.
Có một tuyển tập thơ như thế hẳn rất thú vị. Điều mà tôi mong được đọc nhiều hơn, biết nhiều hơn từ hai tác giả là những chặng đường vất vả một thời (những năm tháng quân nhân của tác giả Nguyễn Duy Yên, những năm tháng tần tảo, một thời bao cấp vất vả của nữ sĩ Đoàn Kim Vân). Cái chung trong thơ hai tác giả khá đa dạng rồi mà hình như còn hơi ít cái riêng. Cái được thì cũng đã rõ, nhưng cái mất cũng là nhu cầu mà bạn đọc quan tâm. Nói như trong bài Nỗi niềm của Đoàn Kim Vân:
Dễ đâu gặp được bạn hiền
Để cùng chia sẻ nỗi niềm hân hoan
Ước mơ cuộc sống thanh nhàn
Mà sao nặng gánh trần gian kiếp người.

Cũng bởi nặng gánh đời nên phải gánh thơ. Chúc tác giả Nguyễn Duy Yên, tác giả Đoàn Kim Vân trẻ mãi trong đời và trong thơ. Chúc âm nhạc thơ của cặp song ca hai thế kỷ ngân mãi những bài ca bất tử.
Mùa hè, 2007
Nhà thơ PHẠM TIẾN DUẬT

Ảnh tư liệu

              Vợ chồng nhà thơ Nguyễn Duy Yên- Đoàn Kim Vân (2006)

Ảnh tư liệu

                                   Nhà thơ Nguyễn Duy Yên ( 2004)

Ảnh tư liệu

                           Nhà thơ Nguyễn Duy Yên (2005)

Ảnh tư liệu

                                  Nhà thơ Đoàn Kim Vân (2006)

Ảnh tư liệu.

                 Đứng trước nhà thơ Kim Vân, đứng giữa nhạc sĩ Trần Hoàn
               đừng sau cùng là nhạc sĩ Lê Xuân Thọ.(Ảnh 2001).

Ảnh tư liệu

        Từ trái sang phải 2 vợ chồng nhà thơ Duy Yên- Kim Vân,
      bà Nghệ sĩ Lệ Thu và Thiếu tương Quang Phòng.

CHIỀU TIỄN BIỆT

                                                                      Ảnh Internet

CHIỀU TIỄN BIỆT

Bóng chiều đổ xuống mấy hàng cây
Tiễn nhau nhớ mãi quãng đê này
Hàng tre soi bóng trên sông vắng
Đôi lòng bịn rịn lúc chia tay.

Chẳng muốn xa nhau chẳng muốn rời
Rồi đây hai đưa lại hai nơi
Mỗi chiều buông xuống riêng em nhớ
Chiếc bóng cô đơn lẻ bóng người

Sợ rằng lưu luyến sẽ tơ vương
Vội vã chào em giữa quãng đường
Khoác gói lên vai rời mái ấm
Gác tình yêu dấu với tình thương

Ra đi nhẹ bước nén sầu bi
Chẳng dam trông theo bóng người về
Biết mắt người yêu mi ướt lệ
Lặng nhìn từng bước, bước người đi.

      Đoàn Kim Vân (15-51956)



Ảnh tư liệu


Từ trái sang phải Phạm Bào,vợ chồng nhà thơ DUY YÊN & KIM VÂN,

                   nhà thơ XUÂN QUỲ , MC Kiều Trang.

MỘT HỒN THƠ ĐA CHIỀU VÀ DA DIẾT

Ảnh Internet

Bài Viết Nhận Xét Tập: Lăng Kính  Thơ  của Đoàn Kim Vân(NXB Hội nhà văn (2014)

MỘT HỒN THƠ ĐA CHIỀU VÀ DA DIẾT
Thạc sĩ Nguyễn Thị Thanh Hoa
Viện Hàn Lâm Khoa Học Xã hội Việt Nam
       Một người bạn đưa  cho tôi xem tập bản thảo Lăng kính thơ. Chỉ mới đọc mấy trang đầu thôi mà tôi đã bị cuốn hút thật sự. Tôi càng ngạc nhiên hơn khi được biết tác giả là nữ giới - nhà thơ Đoàn Kim Vân - ở góc độ sáng tạo văn chương thật dồi dào. Kể từ ngày nghỉ hưu và công việc kinh doanh, bà đã cùng chồng là nhà thơ Nguyễn Duy Yên (cháu ngoại của nhà văn hóa - danh nhân Phan Kế Bính), say mê hơn trong công việc sáng tác thơ ca. Ông, bà đã để lại cho đời một lượng tác phẩm  thật đáng nể phục như sau:
Tiếng lòng (tập thơ in chung, Nxb. Văn hóa - Thông Tin, 1997); Dặm Đời (tập thơ in chung Nxb. Văn học, 2001); Chân trời mới (tập thơ in chung, Nxb. Văn học, 2003), Biển đời (tập thơ in chung, Nxb. Văn học, 2008), Tuyển tập thơ (tập thơ in chung, Nxb. Văn học, 2010), Ngược dòng thời gian - in riêng (Nxb. Văn học, 2008); Mùa hoa nhãn - in riêng (Nxb. Hội nhà văn, 2010); Lăng kính thơ - in riêng (Nxb. Hội nhà văn, 2014). Mênh mang xuân... (tập thơ Nguyễn Duy Yên, Nxb. Văn học, 2009); Một thoáng hương xưa (tập thơ Nguyễn Duy Yên, Nxb. Hội nhà văn, 2010); Muôn nẻo đường thơ ( tập thơ Nguyễn Duy Yên, Nxb. Văn học, 2012).
      Bà cùng chồng là ông Nguyễn Duy Yên đã biên soạn 02 tập thơ: Trăng với thi nhân Việt Nam (Nxb. Văn học, 2010); Nợ bút nghiên (Nxb. Văn học 2012). Ngoài việc in sách ông, bà đã xuất bản 20 đĩa CD, DVD (Nxb. Âm nhạc - DIHAVINA và Audio HỒ GƯƠM ấn hành từ 1998 - 2008). Năm 2014 ông, bà đã xuất bản một tập ca nhạc Xuân với tôi trên 100 bài (do Nxb. Âm nhạc việt Nam ấn hành - DIHAVINA, 2014). 
      Những bài thơ của ông, bà đã được các nhạc sĩ tên tuổi phổ nhạc, phát trên Đài Truyền hình Việt Nam, Đài Truyền hình Hà Nôi và Đài Tiếng nói Việt Nam, có nhiều ca khúc hay được khán thính giả yêu thích đón nhận.
     Tôi trộm nghĩ, nếu trong lâu đài văn chương của ông bà có thêm tập ký và tập tự truyện nữa thì thật đầy đủ và đáng quý biết bao cho hậu thế!
     Tập Lăng kính thơ gồm 201 bài thơ chỉ với thể thơ bốn câu, đây là điều đặc biệt so với các tập thơ trước đây của bà. Người nữ sĩ họ Đoàn này đã trải lòng mình với tất cả những gì có thể diễn đạt được bằng thơ, từ ký ức xa xăm của thời tuổi trẻ, thời đã qua và những dấu ấn của thời hiện tại, cho đến tình yêu, thế sự, thiên nhiên, danh thắng, gia đình và cả bạn hữu nữa... đều được bà biểu cảm bằng những thi tứ mượt mà, chắt lọc.
     Bà đã viết về nỗi nhớ như một lời hò hẹn, lời dặn dò:
Nhớ nhau thì nhớ hôm nay nhé
Có lệ rưng rưng nặng khối tình
Trống trải lòng em khi tiễn biệt
Đường chiều in mãi bóng hình anh.
                                              (Nỗi nhớ)
     Cũng là nỗi nhớ, nhưng khi viết về dòng sông, bà như trách cứ, một sự trách cứ thật dễ chịu và thăm thẳm:
Sông kia ai nối nhịp cầu
Người đi để nhớ để sầu cho ai
Nắng chiều nhàn nhạt dần phai
Trông theo dòng nước nhớ hoài xa xăm
                                          (Dòng sông nỗi nhớ)
     Ở một bài khác, ta lại bắt gặp nỗi nhớ như trên, có điều giai điệu lại nghe có vẻ buồn hơn, da diết hơn thì phải:
Nhớ thương muốn gửi cho nhau
Đường mây cách trở ai sầu hơn ai?
Đêm dài tỉnh giấc hôm mai
Nghe con chim hót vườn ngoài mờ sương.
                                                           (Nhớ)
      Đọc Lăng kính thơ ta bắt gặp rất nhiều hình ảnh của mùa xuân và mùa thu, có lẽ hai mùa này đã chắp cánh hồn thơ cho bà. Phải là người từng trải, biết chắt chiu và yêu quý cuộc đời mới có những vần thơ về mùa xuân không chỉ đẹp mà còn như là sự nuối tiếc vậy:
Xuân đi đâu có đợi chờ
Tiếc xuân ra ngẩn vào ngơ một mình
Xa rồi những quãng ngày xanh
Xuân nhàn ngồi viết thơ tình gửi ai 
                                              (Tiếc xuân)
Hoặc:
Xuân đến đây rồi sao lại đi?
Đẹp như cô gái tuổi đương thì
Tình xuân phong kín bao nhung nhớ
Xuân đến đây rồi sao lại đi?
                                 (Xuân đừng đi)
Nhà thơ Đoàn Kim Vân còn viết rất nhiều bài thơ về mùa xuân, với bà mùa xuân như hiển hiện không nguôi ngoai trong ký ức. Phải là người có tâm hồn đa cảm, dễ rung động với cái đẹp của thiên nhiên, đặc biệt là với mùa xuân thì cảm hứng thi tứ mới rung lên được những vần điệu say đến vậy. Một loạt bài về mùa xuân của bà đã khẳng định điều này: Trăng xuân, Cảm xúc ngày xuân , Gặp xuân...
        Mùa xuân là như vậy, còn mùa thu thì sao?
Bà đã viết:
Xanh biếc trời thu ngọn gió lành
Giậu thưa dương liễu rủ màu xanh
Ngoài vườn lá rụng cây thay lá
Phẳng lặng hồ thu song gợi tình
                                 (Trời thu)
    Và cảm thương cho thân phận vợ chồng Ngâu, năm dài đằng đẵng xa nhau:
Ngồi buồn thầm khóc mưa Ngâu
Vì đâu nên nỗi mà đau khối tình
Trăng buồn gió cũng lặng thinh
Năm tròn qua mới thấy hình bóng nhau
                                       (Mưa Ngâu)
      Qua một số bài thơ xuân và thu, ta nhận thấy hồn thơ của bà đã toát lên niềm vui trong sáng và nỗi buồn thầm lặng hòa quyện với thiên nhiên huyền bí.
      Một điều dễ nhận thấy trong tập năng kính thơ là những danh thắng cảnh của đất nước đã được nhà thơ Đoàn Kim Vân khái quát thật cô đọng nhưng hết sức sinh động. Người đọc có cảm tưởng như người thi sĩ này đi nhiều, biết nhiều, đặc biệt nắm được cái hồn của sự vật và hiện tượng. Bà đã dành cho dòng sông Thạch Hãn những vần thơ thật đặc trưng như sau:
Dòng sông Thạch Hãn nở hoa
Đôi bờ con nước hiền hòa chảy xuôi
Chiến trường xưa của một thời
Tấm gương liệt sĩ đời đời nhớ ơn.
                                   (Dòng sông Thạch Hãn)
      Còn khi viết về sông Hương, những vần thơ của bà bỗng như lặng xuống một cách yên ả, êm đềm như vốn có của một miền quê hết sức thơ mộng đã bao đời từng là nguồn cảm hứng của thơ ca: 
Đêm tàn lãng đãng sương rơi
Thuyền về bến đậu gợi khơi nỗi buồn
Khách đi rồi mái chèo buông
Còn trơ cô gái sông hương lững lờ
                              (Dòng sông Hương)
    Tả thiên nhiên, thơ Đoàn Kim Vân đã biết chắt lọc những thi tứ và hình ảnh đẹp, có khi bất ngờ đến mê mẩn. Bà là người yêu thích chơi hoa, nhưng phải là hoa tươi, hương sắc dịu dàng, còn như hoa giả thì mình không ưa, bà đã bộc lộ tâm trạng của mình qua bài thơ:
Vốn là người thích yêu hoa
Thiên nhiên ban tặng nõn nà tươi sinh
Sắc hương quyến rũ gợi tình
Còn như hoa giả thì mình không ưa.
                                       (Yêu hoa)
     Có những đêm về khuya, dưới ánh trăng hạ tuần, bà ngồi chờ xem hoa Quỳnh nở, xúc động với loài hoa đẹp kiêu sa mà lại chóng tàn:
Em từ kẽ lá nở ra
Quỳnh hoa em đẹp như là dáng tiên
Thẹn thùng khoe sắc về đêm
Đợi người quân tử bên thềm ngắm trăng.
Và cảm thương cho loài hoa quý:
Em đẹp nhưng mà chẳng tỏa hương
Nên em lánh mặt giữa đời thường
Qua đêm khoe sắc rồi tàn lụi
Để lại cho đời nỗi cảm thương.
                               (Hoa Quỳnh)
     Khi đến Hạ Long, một danh thắng nổi tiếng của đất nước vào một buổi chiều tà, ngày sắp hết, bà ngẫu hứng viết:
Biển gọi chiều về nắng nhạt phai
Trăng non hé nhú sắc vàng tươi
Cánh buồm no gió thuyền về bến
Ai đó trông chờ trong mắt ai!
                       (Hạ Long chiều)
     Đến với Tam Đảo, núi non trùng điệp, ngây ngất giữa khoảng trời lộng gió, mây phủ quanh năm bà cảm nhận:
Thăm thẳm trời cao gió cuốn bay
Mây ôm ấp núi giữa ban ngày
Bốn mùa đủ cả trong trời đất
Khách đến ai mà chẳng đắm say.
                                   (Ngẫu hứng Tam Đảo)
     Đối với Sa Pa là vùng đất thơ ca đã từng khắc họa nhiều cảnh đẹp, nhưng trong thơ của Đoàn Kim Vân người quê xứ nhãn này, Sa Pa lại hiện lên một cách bình dị và gần gũi biết bao:
Suối Hoa trong mát chảy hiền hòa
Nương rẫy mờ sương mấy bản xa
Thắng cảnh Sa Pa mơ mộng quá
Bốn mùa mây phủ bốn mùa hoa.
                                    (Sa Pa)
       Trong Lăng kính thơ có một loạt bài mang tính tự sự. Đây là mảng đề tài gây được sự chú ý của bạn đọc, là điểm nhấn nổi trội của tập thơ. Tự sự của Đoàn Kim Vân rất khéo léo, uyển chuyển. Nhiều khi bà nói về mình mà người đọc lại liên tưởng đến mình, đến ý nghĩa khác. Phải là người từng trải sự đời, phải lăn lộn ba chìm, bảy nổi mới có lời thơ dẫn dắt khéo léo như thế. Nói một cách khác, tất cả sự suy ngẫm về mình chỉ gói gọn trong những từ tuy gần gũi trong đời thường, nhưng vô cùng ý nghĩa, đó là các bài: Tìm, Ngẫm, Nghĩ, Tự nhủ, Sửa mình, Tu thân... Phải chăng đây là sự đúc kết của một đời người đã từng nếm trải cay đắng, ngọt bùi.
      Người ta đọc thơ bà mà có cảm tưởng như đang tự răn mình vậy:
Nhìn đời đôi mắt mờ sương khói
Ngán ngẩm nhân tình bạc tựa vôi
Tai chẳng muốn nghe lời kiệm nói
Sống sao xứng đáng một con người.
                                     (Tự nhủ)
     Bà tự nhủ như vậy rồi lại tự mình đi tìm. Bà tìm gì vậy? Bà đã có đủ mọi thứ rồi kia mà. Thật bất ngờ khi bà tâm sự:
Người đi tìm kiếm bạc vàng
Riêng tôi tìm lấy một nàng thơ chơi
Ngẫm xem những tấn trò đời
Ai mà tìm thấy mặt trời nửa đêm
                                     (Tìm)
       Bà nghĩ cũng thật khác nhiều người. Sự khác biệt này ta có thể chấp nhận được, bởi lẽ lợi danh bà cũng có đủ rồi. phải chăng càng về cuối cuộc đời, người ta càng nhận thấy tình bạn là thật cao quý và được sống là điều hạnh phúc hơn hết thảy mọi thứ:
Lợi danh như thể phù du
Hãy nên thêm bạn bớt thù là hơn
Biển đời sóng gió nguồn cơn
Mai ngày về đất hỏi còn gì đâu?
                               (Nghĩ)
    Vậy cho nên bà luôn sửa mình. Đây cũng chính là thông điệp bà muốn gửi cho tất cả những ai quá coi trọng vật chất, tiền bạc:
Muốn hay phải biết sửa mình
Đừng kiêu ngạo quá mà sinh hợm đời
Thả mình vào chốn ăn chơi
Để rồi bỏ phí một thời xuân xanh.
                                (Sửa mình) 
     Đối với Đoàn Kim Vân, con người ta muốn sống thanh thản thì chớ tham lam. Đây là bí quyết sống và làm việc. Và nếu ai đó từ bỏ được lòng tham thì cuối cùng cái gì cũng gặt hái được cả, như thể là nhân nào thì quả ấy vây. Bà tâm sự:
Tham lam rước họa vào thân
Ở sao đức độ nghĩa mới là
Khôn ngoan ăn nói thật thà
Thấy của phi nghĩa tránh xa chớ màng.
                                         (Chớ tham)
     Riêng với tập Lăng kính thơ, tôi khẳng định rằng, tập thơ không những dày dặn về số lượng mà còn phong phú và đa dạng về chủ đề sáng tác. Điều cần nói tác giả đã nói và diễn đạt được bằng thơ, kể cả những nỗi lòng sâu xa, trắc ẩn, cũng như màu xám của sụ đời và màu hồng của cuộc sống hôm nay. Tập thơ thực sự là bước cách tân đáng kể của Đoàn Kim Vân, góp phần không nhỏ trong cả một quãng đường say mê sáng tạo văn chương.
     Để kết thúc bài viết, tôi xin mượn hai bài thơ của bà mà tôi tâm đắc, một bài bà quan niệm về đời người và bài khác bà quan niệm về lăng kính của người nghệ sĩ. Bà chính là một con người bình dị như bao con người khác, nhưng điều đáng quý là bà biết nhận ra đời người thật ngắn ngủi, để khi sống phải sống sao cho xứng đáng. Bà còn là một nghệ sĩ, bởi thế bà đã biết viết về đời và dành cho đời những gì ưu ái nhất qua "lăng kính" của một nhà thơ:
Sinh tử chẳng qua cũng lẽ đời
Thời gian vun vút tháng năm trôi
Trần gian lận đận bao lâu nữa
Thấp thoáng qua đi một kiếp người
                                    (Đời người)
Và:
"Lăng kính" sáng  soi tỏ việc đời 
Biết yêu biết ghét bạn lòng ơi
Ngợi ca Tổ quốc giàu và đẹp
Gợi mở đôi điều góp ý thôi.
                              (Lăng kính thơ)
   Vâng, tuy nữ sĩ Đoàn Kim Vân nói "góp ý đôi điều" nhưng đó là cả một nỗi lòng mênh mang, đau đáu của bà đối với cuộc đời này. Và đôi điều của bà cũng thật lớn lao, thật ý nghĩa, đọc mãi, ngẫm mãi mà không hết.
    Xin trân trọng giới thiệu tập Lăng kính thơ với bạn đọc và những ai đã từng yêu mến dòng thơ tứ tuyệt cô đọng, kiệm lời nhưng chuyển tải được rất nhiều ý nghĩa sâu xa ta thường gặp trong đời sống thường ngày.
Hà Nội, tháng 9 năm 2013

BƯỚC DÀI TRONG NGHỆ THUẬT SÁNG TÁC THƠ ĐOÀN KIM VÂN

Ảnh: Internet

BƯỚC DÀI TRONG NGHỆ THUẬT SÁNG TÁC THƠ ĐOÀN KIM VÂN
Nhà thơ Bùi Việt Mỹ
Ủy viên ban chấp hành Hội Nhà văn Hà Nội
      Với 201 bài thơ tứ tuyệt (bốn câu) làm nên tập thơ này(Lăng kính thơ), Đoàn Kim Vân đã đi một bước dài trong sáng tác, đó là độ chín về lối viết, nhuần nhuyễn, trau chuốt về câu tứ, bản năng thơ được bộc lộ tự nhiên đi sâu vào tâm tư, tình cảm và các hiện tượng của xã hội, có nhận xét và phê phán.
      Tập thơ không sắp xếp theo từng chủ đề mà nó trải dài theo diễn biến tâm trạng của tác giả, điều đó nói lên cách viết theo xu hướng mới, chảy theo dòng tư tưởng và suy nghĩ của riêng mình.
     Tuy nhiên chúng ta vẫn có thể cảm thụ thơ chị theo từng nhóm cảm xúc về sự thăng hoa, từ quan sát cảnh vật xung quanh cuộc sống hàng ngày, từ đó nảy sinh giao kết quan hệ đa chiều của tâm tư, tình cảm được thông qua chiêm nghiệm của thời gian.
     Đọc theo hướng nào ta cũng bắt gặp những câu thơ luôn luôn cài đặt tâm tư của mình - Đây Chiều mơ:
... Mênh mông mặt nước sông dài 
Một chiều xa một mảnh trời lênh đênh...
Và Đêm Tây Hồ:
... Quanh co muôn nẻo dặm đường
Thuyền trôi bến đợi người thương cách vời...
     Nỗi khắc khoải đợi chờ ấy nó đan xen vào cuộc sống hằng ngày. Sum họp và chia ly, thành công hay thất bại âu cũng là quy luật tự nhiên trong kiếp sống con người, nhà thơ tự hỏi:
... Trần gian ở trọ bao lâu nữa?
Thi sĩ lãng du thế đủ rồi
     Những bài, những câu thơ hay có khá nhiều trong tập thơ, chúng tôi muốn dành cho bạn đọc tự chọn, vì sức sống và hấp dẫn của tập thơ này sẽ nói lên tất cả. Và tôi muốn nói thêm, so với các nhà văn hội viên Hà Nội cùng lứa tuổi thì Đoàn Kim Vân có số tác phẩm nổi trội do các nhà xuất bản Văn học, Hội nhà văn, Văn hóa - Thông tin ấn hành: Tiếng lòng(1997), Dặm đời (2000), Chân trời mới(2003), Biển đời (2007), Ngược dòng thời gian (2008), Mùa hoa nhãn (2010).
     Tôi đã được đọc phần lớn số bài trong các tập thơ ấy và nhận thấy xuyên suốt tác phẩm của chị vẫn cứ là một tình cảm nồng ấm, một trách nhiệm cao với sự chia sẻ nỗi lòng riêng tư.
     Theo tôi đó là cái lớn, cái quyết định tư tưởng của một nhà thơ, nó có tầm ảnh hưởng của tác phẩm đối với bạn đọc, qua đó mà tác động đến đời sống văn học cộng đồng.
     Chúng ta ghi nhận sự đóng góp của nhà thơ vào nền văn học thủ đô,  thật rất đáng quý và trân trọng.
     Tập "Lăng kính thơ" ý tứ mỗi bài chỉ gói gọn trong bốn câu quả là khó viết, vì lẽ đó tôi đánh giá cao về phương pháp sáng tác thơ của tác giả, bài thơ làm cho bạn đọc dễ hiểu, dễ nhớ và cảm thụ được lâu bền.
     Xin trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc tập "Lăng kính thơ" của nhà thơ Đoàn Kim Vân.